Bạn Đang Xem:   Suy Niệm Lời Chúa Hằng Tuần


Chúa Nhật IV Mùa Vọng - Năm A - ngày 22 tháng 12 năm 2013


Tin Mừng Mt 1:18-24


Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giuse, là con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà.

_______________________________________________________________________________



CHIA SẺ VÀ SỐNG LỜI CHÚA


Chúa Nhật IV Mùa Vọng - Năm A - ngày 22 tháng 12 năm 2013
Tin Mừng Mt 1:18-24

_______________________________________________________________________________


ĐỨC GIÊSU ĐỒNG HÀNH VỚI NHÂN LOẠI TRONG SỰ XÁO TRỘN


(Isaia 7:10-14; T,vịnh 24; Rôma 1:1-7; Mátthêu 1:18-24)


Khi mới nghe Bài đọc trích sách ngôn sứ Isaia, chúng ta sẽ thấy có thanh âm lạ lùng. Nghe như mâu thuẫn vậy, bởi vì: Chẳng phải vua Akhát từ chối xin Thiên Chúa một dấu chỉ tựa như sự sắp xếp mà chúng ta gọi đó là niềm tin sao? Nhằm nâng đỡ niềm tin, chúng ta được chỉ dạy phải tín thác vào Thiên Chúa ngay cả khi không có những dấu chỉ rõ ràng. Thế nhưng, tại sao ngôn sứ Isaia lại tức giận khi vua Akhát từ chối xin dấu chỉ? – “Hãy cứ để dấu dưới âm phủ hoặc trên chốn cao xanh”. Vua Akhát đáp lại: “Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách Đức Chúa”. Chẳng phải điều đó nghe khó hiểu sao?

Những bối cảnh dưới đây có thể giúp giải thích điều này. Tám thế kỷ trước Chúa giáng sinh, Đế quốc Assyria đã tràn qua các quốc gia nhỏ hơn để xâm chiếm Ai Cập. Israel, vương quốc phía Bắc, đã liên minh với Assyria và chuẩn bị tấn công Giuđa. Lúc bấy giờ, Ai Cập muốn vua Akhát, thủ lãnh của Giuđa, hợp lại để chống trả người Assyria. Ngôn sứ Isaia khuyên vua Akhát hãy trung tín với giao ước và tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa. Thay vì hợp tác với Ai Cập để chống lại Assyria, vua Akhát đã quay sang phò vua Tiglath Pileser, trị vì nước Assyria. Thậm chí ông còn đưa hình thức phượng tự của người Assyria vào trong Đền thờ. Ngôn sứ Isaia đã ra sức thuyết phục vua Akhát tin rằng lời nói của ông đáng tin cậy, nên ông đã khuyến khích vua xin Thiên Chúa một dấu. Nhưng vua Akhát đã quay sang người Assyria xin sự trợ giúp mà không phải xin Thiên Chúa giúp sức. Do đó, việc từ chối của vua Akhát đã khiến ngôn sứ Isaia buộc tội ông vì làm phiền cả dân chúng và Thiên Chúa.

Thiên Chúa đã hứa bảo vệ Giêrusalem và duy trì ngai vàng vua Đavít. Vì vậy, Thiên Chúa đáp lại vua Akhát: “Này đây trinh nữ sẽ mang thai, sẽ sinh hạ con trai và đặt tên là Emmanuel”. Nếu có ai hỏi vua Akhát: “Ai chịu trách nhiệm ở đây?” Ông sẽ dựa trên phương diện chính trị, quyền lực quốc gia mà trả lời rằng, người chịu trách nhiệm là vua nước “Assyria”. Các nhà lãnh đạo chính trị và quốc gia thường không quan sát tổng thể, chỉ nhìn hạn hẹp trong phạm vi quyền lực. Nếu chúng ta đặt cùng câu hỏi này với ngôn sứ Isaia, ông sẽ trả lời ngay và không dè dặt gì rằng: “Thiên Chúa và chỉ Thiên Chúa chịu trách nhiệm”.

Emmanuel nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Miền Giuđa sẽ bị dân Assyria xâm chiếm. Trong trường hợp này, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” sẽ xét xử miền Giuđa. Nhưng “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” cuối cùng sẽ làm cho Assyria bại trận.

Chúng ta muốn Đấng Emmanuel đến và sẽ mừng sinh nhật Người sớm hơn. Niềm an ủi Người mang đến là: “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” sẽ nối kết chúng ta vào những nơi chúng ta cần sức mạnh, sự can đảm và lòng trắc ẩn để sống như dân tộc sống giao ước của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Nhưng khi Giáng sinh đang cận kề, và trong lúc tổ chức mừng sinh nhật Đức Kitô, và giả như Thiên Chúa đến phán xét tội lỗi và những liên minh mờ ám mà chúng ta đã thỏa hiệp để có được sự giàu sang, thân thế và địa vị xã hội, thì liệu chúng ta có còn mừng nhau vài cốc rượu bên cây thông và máng bò lừa hay không? Ngôn sứ Isaia báo cho biết, khi Thiên Chúa đến sẽ mang theo cả sự thách đố và nguồn an ủi. Sự phát xét sẽ dựa vào những liên minh và sự kỳ vọng mà chúng ta đã đặt vào nơi các quyền lực như: quân sự, kinh tế, thân thế, cạnh tranh, những hệ thống bất công, v.v... Có lẽ khi mừng Đức Kitô đến, lời cầu nguyện đầu tiên của chúng ta sẽ là: “Lạy Chúa, xin thương xót chúng con”. Tiếp đến, chúng ta sẽ chuẩn bị để mừng Đấng Emmanuel, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, vì một lần nữa, chúng ta hoán cải và quay về với Đấng cứu thế cho sự sống mới.

Thánh Mátthêu được dưỡng dục tốt trong truyền thống Do Thái. Ngài cho thấy điều đó ngay từ khởi đầu của sách Tin Mừng. Sự mô tả của ngài về những điều dẫn đến biến cố hạ sinh của Đức Giêsu tập trung vào niềm hy vọng của dân tộc. Bằng việc trích dẫn sách ngôn sứ Isaia, thánh Mátthêu cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa ở cùng chúng ta; không phải theo cách chung chung, nhưng ngay bấy giờ trong dòng tộc của vua Đavít – như Thiên Chúa đã hứa. Lời hứa trong Kinh Thánh đã được ứng nghiệm. Bằng việc hướng các độc giả đến với Kinh thánh, ngôn sứ Isaia nhắc nhở rằng các tín hữu hãy đặt niềm tin vào Kinh Thánh – đặc biệt giữ vững niềm hy vọng và củng cố đức tin trong những khi ngã lòng.

Thiên Chúa đã đến thế gian: một thế gian mà các kế hoạch không luôn luôn được thực hiện theo như ý, và nơi thế gian này, con người phải tập thích nghi với thực tại hiện hữu trước mắt họ. Ông Giuse đã thành hôn với bà Maria, và tất nhiên, ông đã có những kế hoạch cho mình. Bào thai của bà Maria đã làm đảo lộn thế giới và kế hoạch của ông. Thay vì tố cáo bà Maria, ông “đã định tâm bỏ bà cách kín đáo”. Ông là “người công chính” và sẽ bảo vệ bà Maria khỏi bị ô danh. Ông không có ý trả thù, và mặc dù bà Maria đã sai, nhưng ông vẫn thể hiện lòng khoan dung.

Sau giấc chiêm bao, ông Giuse “đưa vợ về nhà mình”. Quả thật, thế giới Thiên Chúa chọn để đến không chỉ là một nơi nghèo nàn, lao động cực nhọc, đầy áp bức của quân đội và chính trị, mà ngay từ đầu đã xuất hiện sự xáo trộn – thậm chí sự xáo trộn đó đã có từ khi đứa trẻ còn trong lòng mẹ. Thiên Chúa nắm lấy cơ hội lớn là sinh ra giữa chúng ta. Để tạo ra con đường bằng phẳng và thực thi kế hoạch suôn sẻ hơn cho Đấng cứu thế, chắc chắn đối với Thiên Chúa phải có những chọn lựa khác khôn ngoan hơn. Nhưng liệu ai có được “con đường bằng phẳng” qua cuộc sống xáo trộn này? Thật lý tưởng khi biết rằng Đấng Emmanuel, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, lại chọn cách đồng hành với chúng ta, những con người trong một thế giới hiện thực và đầy hỗn độn. Tất nhiên, Thiên Chúa cũng đồng hành với chúng ta trong sự hỗn độn đó.

Lần tới cha chủ tế trong Thánh Lễ, hoặc ở phần mở đầu lại cầu xin: “Chúa ở cùng anh chị em”, chúng ta sẽ đáp lại theo đúng kỷ luật phụng vụ: “Và ở cùng Cha”. Nhưng chúng ta có thể thì thầm thêm rằng: “Tạ ơn Chúa! Chúa ở cùng con, ngay ở đây và bây giờ, cuộc sống con đây đầy rẫy những bất toàn, sự sợ hãi, đầy ắp những thứ cần phải làm và cả sự xao lãng, hòa lẫn niềm vui, nỗi buồn và cả tình yêu. Chúng con xin tạ ơn Chúa!”

Lm. Jude Siciliano, OP
Chuyển ngữ: Anh Em HV. Đaminh Gò Vấp

_______________________________________________________________________________


KHỞI ĐẦU MỚI PHÁT XUẤT TỪ THIÊN CHÚA


(Isaia 7:10-14; T,vịnh 24; Rôma 1:1-7; Mátthêu 1:18-24)


1.- Ngữ cảnh

Phần Mở của Tin Mừng Mt đi từ 1,1–4,16. Về nội dung, trong bốn chương mở đầu này trước khi Đức Giêsu xuất hiện công khai, có hai người khám phá ra Đức Giêsu là ai, theo hai đường song song và riêng tư: Giuse (ch. 1–2) và Gioan Tẩy Giả (ch. 3–4). Giuse thì được thiên thần Chúa báo tin trong giấc mơ rằng Đức Giêsu là con (cháu) vua Đavít, còn Gioan thì được một tiếng từ trời cho biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Cả hai vị đều muốn tránh né ơn gọi đặc biệt các vị được mời đảm nhận trong liên hệ với Đức Giêsu, vị đầu sẽ đưa Đức Giêsu vào trong dòng dõi vua Đavít, vị sau sẽ trở thành khí cụ để tấn phong làm Đấng Mêsia trong phép rửa. Trong cả hai trường hợp, cảm thức về sự bất xứng của hai vị đã là động lực khiến các vị có thái độ như thế (chính theo nghĩa này mà ta phải hiểu sự “bối rối” của Giuse). Nhưng sự băn khoăn bối rối của các vị đã được thiên thần hoặc chính Đức Giêsu đánh tan. Cuối cùng, cũng như Giuse, khi chấp nhận đưa Đức Giêsu vào trong dòng dõi vua Đavít, đã kéo theo cuộc bách hại của vua Hêrôđê, Gioan Tẩy Giả, khi chấp nhận ban phép rửa cho Đức Giêsu và tạo cho Người cơ hội được tấn phong làm Đấng Mêsia, đã kéo theo những đợt tấn công của Satan.

Bản văn đọc trong Phụng vụ hôm nay là phân đoạn thứ hai thuộc nửa đầu của Phần Mở.

Bảng gia phả đã nói rằng Đức Giêsu xuất thân từ nhà Đavít và Abraham cũng như Người bén rễ sâu vào trong lịch sử Israel. Đồng thời bảng gia phả cũng khẳng định hoàn cảnh huyền bí của cuộc chào đời của Người (1,16). Với cách bố trí cũng như những con số, bảng gia phả cho thấy rằng Đức Giêsu là cùng đích và sự hoàn tất của lịch sử này. Nhưng bảng gia phả lại không nói cho biết sự hoàn tất này hệ tại điều gì. Điều này bây giờ được nói rõ qua sứ điệp Thiên Chúa ban cho Giuse và được xác nhận qua cách xử sự của Giuse.

Trong c. 16 của ch. 1, tác giả bảo chúng ta rằng Giuse là chồng của Maria và Maria là mẹ của Đức Giêsu, nhưng Giêsu lại không phải là con của Giuse. Trong đoạn văn đọc hôm nay (1,18.20), tác giả liên tiếp nhắc lại rằng Chúa Thánh Thần ở tại nguồn của cuộc đời Đức Giêsu đến cuối đoạn văn, tác giả nhắc lại lần thứ ba rằng Giuse không can dự gì vào cuộc chào đời của con trẻ này (1,25). Nếu ở 1,25, tác giả viết: “Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu”, ông muốn nói rằng cho đến khi Đức Giêsu chào đời, Giuse không hề có một quan hệ phu phụ nào với Maria, nhưng cũng không khẳng định rằng sau đó Giuse đã bắt đầu có quan hệ này.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia làm năm phần:
1) Đầu đề của đoạn (1,18a);
2) Hoàn cảnh của Giuse và Maria (1,18b-19);
3) Thiên Chúa can thiệp (1,20-21);
4) Lời bình của tác giả (1,22-23);
5) Giuse thi hành lệnh Thiên Chúa (1,24-25).

3.- Chú giải

- chung sống (18): Synelthein, “đến với, tham gia với”, có thể có nghĩa là quan hệ vợ chồng hoặc sống với nhau. Văn cảnh trực tiếp dường như hợp với nghĩa thứ nhất hơn. Người thiếu nữ Do Thái được đính hôn vào khoảng năm 12 tuổi, từ giã cha mẹ để về sống dưới sự bảo trợ của chồng vào khoảng năm 13-14 tuổi. Sự chuyển đi này mở đầu cho cuộc sống chung và cũng là việc kết hôn.

- người công chính (19): Giuse không công chính theo nghĩa vâng phục lề luật, bởi vì không có khoản luật nào buộc phải bỏ vị hôn thê bị coi là ngoại tình (Đnl 22,13-21.23-27 liên hệ đến hôn nhân hoàn hợp; x. Đnl 24,1). Vả lại, khi bỏ Maria một cách kín đáo (lathra), ngài cũng chẳng vâng phục lề luật, bởi vì hành vi rẫy vợ chỉ có giá trị pháp lý nếu làm công khai (x. Đnl 22,15: tại cửa thành). Một đàng, nếu hiểu đây là “sự công chính theo luật pháp”, chúng ta đứng trước một thế lưỡng nan. Quả vậy, nếu dưới mắt Giuse, Maria đã ngoại tình, ngài bỏ bà là chuyện dễ hiểu, nhưng ta không hiểu vì sao ngài lại tính bỏ bà “cách kín đáo”, bởi vì khi đó việc này sẽ không có hiệu quả pháp lý và thật ra bí mật cũng chẳng giữ được lâu. Còn nếu Giuse cho rằng Maria vô tội, ta không hiểu được là vì sao ngài lại nghĩ đến việc bỏ bà, vì luật không buộc như thế; đã thế, trong tư cách là hôn phu, ngài còn có nghĩa vụ bảo vệ hôn thê vô tội chống lại những ngờ vực vô căn cứ của kẻ khác. Vậy không thể hiểu sự công chính của ngài theo nghĩa pháp lý.

Đây là sự công chính tôn giáo. Chính sự công chính này buộc Giuse phải tôn trọng việc Thiên Chúa làm nơi Maria và ngăn cản ngài nhận lấy những công trạng từ một hành động của Thiên Chúa: tự mình, ngài nghĩ ngài không được phép đưa về nhà một người đã được Thiên Chúa dành riêng cho Ngài. Nếu làm như thế, ngài có vẻ chiếm đoạt một vai trò mà Thiên Chúa không trao cho ngài. Đứng trước mầu nhiệm này, ngài muốn rút lui, và vì tế nhị do đức công chính đối với Thiên Chúa, ngài đã để ý không “phổ biến” mầu nhiệm Thiên Chúa đang bao trùm Maria. Vấn đề nằm ở động từ deigmatisai: theo Origiênê và Êusêbiô, động từ này không hề hàm chứa một ý niệm ô nhục nào; cha Joušon dịch là “vén mở, tiết lộ”. Động từ paradeigmatisai mới là “trừng phạt để nêu gương; làm cho ô nhục, mất danh giá”. Giuse đã phản ứng như tất cả mọi người công chính trong Kinh Thánh khi nhận ra Thiên Chúa đang can thiệp vào trong lịch sử của họ: như Môsê cởi dép khi đứng trước bụi gai cháy, như ngôn sứ Isaia kinh hoàng khi thấy vị Thiên Chúa ba lần thánh xuất hiện, như bà Êlisabét tự hỏi vì sao mẹ Đức Chúa của bà lại đến thăm bà, như viên đại đội trưởng trên đồi Sọ, như Phêrô khi chứng kiến mẻ cá lạ lùng. Như “Aben người công chính” (23,36: người “công chính” duy nhất được Mt nêu tên trong Tin Mừng. Chắc chắn Aben “công chính” không do lề luật, bởi vì lề luật chỉ được ban bố với Môsê!), Giuse cũng tỏ ra là người trung thành thờ phượng Thiên Chúa.

Cách giải thích này được hỗ trợ bởi ngữ cảnh tổng quát của toàn ch. 1 của Mt. Trong bài đầu tiên (1,1-17), Mt đã trình bày gia phả của Đức Giêsu khởi đi từ tổ phụ Abraham và từ vua Đavít ngang qua Giuse. Nhưng bảng gia phả này lại gặp ngay nơi Giuse một vấn đề hóc búa. Đó là vì Đức Giêsu không phải là con Giuse theo xác thịt. Vậy mục tiêu của đoạn văn này là để giải thích làm thế nào Đức Giêsu có thể thuộc về dòng dõi vua Đavít, nếu Người không phải là con của Giuse. Lời giải thích nằm ở việc Giuse nhìn nhận Đức Giêsu làm con về pháp lý. Mục tiêu của bản văn Tin Mừng này, thay vì bảo vệ việc thụ thai đồng trinh, thì tìm các xác định do đâu Đức Giêsu có thể trở thành hậu duệ vua Đavít và Đấng Mêsia thuộc dòng tộc vua Đavít cho dù có việc trinh thai. Vậy hai phần của ch. 1 của Mt làm thành hai cánh của cùng một việc chứng minh.

Một hỗ trợ khác nữa đến từ chính những lời của thiên thần (cc. 20-21): “Này ông Giuse là con cháu vua Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì quả thật (HL. gar: car certes; for, indeed, certainly) điều được sinh thành (to gennêthen = đứa con) nơi bà là việc của Thánh Thần, nhưng (HL. de) bà sẽ sinh một con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu; vì (gar) chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”. Dịch gar là “quả thật” (chắc chắn) là chuyện thông thường vào thời ấy (x. 1 Cr 9,10; 2 Tx 2,20; Mt 18,7; 22,14; 24,6…). Vậy khi nói như thế, thiên thần giả thiết Giuse đã biết chuyện thụ thai đồng trinh và chính chuyện này đã thúc đẩy ngài rút lui, vì thấy Thiên Chúa can thiệp vào cuộc đời Maria. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã truyền cho ngài “dù sao” (“nhưng”) cũng cứ chấp nhận và đặt tên cho con, và khi đó, ngài đưa con tháp nhập vào trong dòng dõi vua Đavít.

- thiên thần Chúa (20): Như trong Cựu Ước, thuật ngữ này được dùng để nói tới sự can thiệp của Thiên Chúa (x. St 16,7.13; Xh 3,2), chứ không có nghĩa là một trong các “thiên thần".

- Giêsu (21): Trong Kinh Thánh, tên người còn chỉ chức năng Thiên Chúa quy định cho một người trong Lịch sử cứu độ. Iêsous là dạng Hy Lạp của tên Híp-ri Yehôshua (x. Xh 24,13) hoặc Yeshua (Nkm 7,7), có nghĩa là “YHWH là sự cứu độ”, “YHWH ban ơn cứu độ”, “YHWH cứu độ”, “Ơn cứu độ của YHWH”.

- Này đây, Trinh nữ sẽ thụ thai (23): Tác giả trích Is 7,14 theo Bản LXX, bởi vì trong bản này có từ parthenos, “trinh nữ”, chứ trong bản Híp-ri, ta đọc là almah, “thiếu nữ”, có thể là một thiếu nữ hoặc một người vợ trẻ. Cũng vì dựa trên Is 7,14, Do Thái giáo Paléttina không chờ đợi Đấng Mêsia được sinh ra bởi một trinh nữ, nhưng chờ đợi Người là một con đầu lòng (x. Lc 2,7).

- Emmanuel (Hp. Immanuel): Tác giả không nêu ra một tên mới của Đấng Mêsia, mà nêu lên ý nghĩa của bản thân và công trình của Người. Is 7,14 và 8,8 cũng không nhấn mạnh đến sự hiện diện của Thiên Chúa, vì điều này được giả thiết có trong Kinh Thánh, nhưng nhấn mạnh đến sự diện diện năng động của Ngài để cứu giúp. Như thế, nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa hiện diện giữa dân Ngài để trợ giúp và cứu độ họ. Lời hứa long trọng của Đức Kitô vinh hiển (“Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”, 28,20) cho thấy lời loan báo ấy đã được thực hiện hoàn hảo. TM Mt mở ra và kết thúc với ý tưởng này: nơi bản thân Đức Giêsu, Thiên Chúa sẵn sàng đến hiện diện năng động, tích cực, với loài người.

- ông không … cho đến khi… (25): Câu này hoàn toàn đúng với c. 23 cho thấy rằng Maria là trinh nữ khi sinh con. Câu “ông không biết (= ăn ở với) bà, cho đến khi bà sinh một con trai” không chống lại việc sau đó Maria vẫn đồng trinh, cũng không ám chỉ điều này, mà cũng không cho phép kết luận rằng sau đó bà đã có những quan hệ vợ chồng với Giuse. Đàng khác, chúng ta ghi nhớ rằng mẫu tính đồng trinh của Đức Maria không có nghĩa sinh học, mà diễn tả niềm tin của Giáo Hội vào thần tính và nhân tính của Đức Giêsu.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Đầu đề của đoạn (18a)


Với đầu đề (18a), tác giả Mt ngỏ lời với độc giả để xác định hoặc điều chỉnh cách thức họ hình dung cuộc chào đời của Đức Giêsu. Đức Giêsu không phải là con của Giuse, nhưng là tạo thành của Chúa Thánh Thần. Nơi Người, lịch sử Israel đi đến chỗ hoàn tất, nhưng Người không phải là hoa trái tự nhiên hoặc kết quả thiết yếu của lịch sử này. Người không lệ thuộc vào và không chỉ xuất thân từ một chuỗi các thế hệ và những cuộc sinh hạ con người. Người là sự hoàn tất, nhưng là như một khởi đầu hoàn toàn mới. Khởi đầu cuộc sống của Người là do Chúa Thánh Thần, khởi đầu này trực tiếp gắn với hoạt động của quyền lực sáng tạo của Thiên Chúa. Thiên Chúa gồm tóm nơi Người toàn thể lịch sử Israel, đồng thời thiết lập một khởi đầu mới mang tính sáng tạo. Không phải là loài người đã ban tặng Đức Giêsu cho nhau; Người là khởi đầu và là quà tặng hoàn toàn đến từ Thiên Chúa. Đó là nguồn gốc của Đức Giêsu (1,18), và nguồn gốc này cho thấy bản tính và ý nghĩa của đời Người.

* Hoàn cảnh của Giuse và Maria (18b-19)

Tuy thuộc nguồn gốc thần linh, Đức Giêsu lại được liên kết với lịch sử Israel. Mẹ Người là Maria đã đính hôn với Giuse, nhưng chưa về sống trong nhà Giuse. Theo luật lệ Do Thái, với lễ đính hôn, hai người nam nữ đã được coi là vợ chồng rồi. Vì thế, Giuse được gọi là chồng của Maria (1,16.19), còn Maria thì được gọi là vợ của Giuse (1,20.24). Chỉ một năm hay một năm rưỡi sau lễ đính hôn, vị hôn thê mới được đưa về nhà vị hôn phu và bắt đầu cuộc sống vợ chồng. Ở đây, tác giả Mt cũng không cung cấp một thông tin nào đặc biệt về Giuse và Maria, ngài nói về hai đấng như những nhân vật rất quen thuộc với độc giả. Vậy mục tiêu của ngài không phải là cung cấp tài liệu, mà là huấn giáo. Trong thời gian giữa lễ đính hôn và cuộc chuyển về nhà chồng, Giuse nhận ra rằng Maria đã có thai. Đọc c. 18b cách bình thản, ta thấy dường như tác giả gợi ý rằng Giuse có biết việc Maria mang thai là do sự can thiệp của Chúa Thánh Thần. Giuse quyết định bỏ Maria kín đáo vì tế nhị đối với sự can thiệp của Thiên Chúa nơi Maria.

* Thiên Chúa can thiệp (20-21)

Giuse đang toan tính như thế trong lòng, thì được Thiên Chúa can thiệp qua việc một thiên sứ đến báo mộng để khẳng định với ngài là quả thật con trẻ sắp chào đời thuộc nguồn gốc thần linh; nhưng ngài có nhiệm vụ đón Maria về và đặt tên cho con trẻ. Ngài phải duy trì dây liên hệ với Maria và như thế, nhìn nhận trước luật pháp rằng con trẻ ấy là con của ngài. Do nhiệm vụ Thiên Chúa giao, Giuse trở thành cha của hài nhi về mặt luật pháp và cũng trước luật pháp, Giêsu trở thành con và đương nhiên là người thừa kế của ngài. Hệ quả là Đức Giêsu được tháp nhập hợp pháp vào gia phả của Giuse. Như thế, Đức Giêsu đi vào trong dòng dõi xuất thân từ các vị tiền nhân ấy và trở thành đích điểm và sự hoàn tất của dòng dõi ấy. Như vậy, tác giả Mt không nhắm thỏa mãn óc tò mò của chúng ta. Tất cả những gì ngài muốn chúng ta hiểu là: con của bà Maria là người được Thiên Chúa hứa cho thừa kế ngai vàng vua Đavít, như các ngôn sứ đã từng loan báo.

Còn Đức Giêsu thực hiện vị trí và nhiệm vụ ấy như thế nào, thì chính tên của Người cho thấy, tên mà Thiên Chúa đã chọn cho Người và Giuse phải đặt cho Người. Thiên Chúa đã đổi tên cho người trước đây được gọi là Abram và ban cho ông tên mới là Abraham, “vì Ta đặt ngươi làm cha của vô số dân tộc” (x. St 17,5). Sự tuyển chọn của Thiên Chúa được diễn tả ra và xác nhận bằng việc đổi tên. Vì trao một nhiệm vụ mới và với nhiệm vụ này là một đời sống mới, Ngài ban cho một tên mới. Điều đó càng đúng hơn nữa với Đức Giêsu, con cháu tổ phụ Abraham. Cùng với cuộc đời, Người đã được Thiên Chúa ban cho ngay từ đầu tên và nhiệm vụ. Tên của Người là Yeshua hay là Yehoshua, có nghĩa là “Thiên Chúa là sự cứu độ”; Người giải thoát khỏi tội lỗi (1,21; x. Tv 130,8). Với nhiệm vụ này, Đức Giêsu có quyền năng Thiên Chúa và ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho ta nhờ trung gian Người. TM Mt sẽ cho thấy Đức Giêsu là Đấng Mêsia, là Đức Vua và Vị Mục tử, Người săn sóc dân Người và đưa họ đến sự sống viên mãn.

* Lời bình của tác giả (22-23)

Đến đây tác giả viết lời bình. Với biến cố này, đã thực hiện điều mà Thiên Chúa đã loan báo qua miệng các ngôn sứ. Trong dự phóng của Ngài, chính Thiên Chúa muốn có cuộc chào đời và hài nhi này. Khi khẳng định rằng lời Thiên Chúa được ứng nghiệm, một lần nữa tác giả muốn nói rằng đàng sau biến cố này, có Thiên Chúa như là Đấng quy định và hướng dẫn mọi sự. Khi cho biết Đức Giêsu cũng chính là “Emmanuel”, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, tác giả cho biết đặc tính của biến cố Người đến, cũng như đặc điểm của sự hiện diện và công trình của Người: nơi Người, Thiên Chúa ở cùng chúng ta; Đức Giêsu là sự hiện diện năng động của Thiên Chúa gần kề chúng ta; nơi Người, vị Thiên Chúa từ bi thương xót tỏ mình ra, vị Thiên Chúa trợ giúp và cứu độ, cũng như tỏ hiện dự phóng của Ngài đối với loài người. Nơi Người, Thiên Chúa ở cùng chúng ta và chúng ta đến được với Thiên Chúa (x. 28,20).

* Giuse thi hành lệnh Thiên Chúa (24-25)

Khi đã biết rõ ý Thiên Chúa, Giuse thi hành ngay: ngài “đón vợ về nhà”. Câu văn tiếp theo cho biết là ngài không có quan hệ phu thê với Maria, và như thế hài nhi Giêsu không phải là con của ngài. Nhưng câu văn này cũng không hề ám chỉ là sau đó Giuse có quan hệ vợ chồng với Maria. Với lại tác giả không quan tâm đến vấn đề này. Ông còn đang cho thấy là Giuse thi hành chính xác lệnh Thiên Chúa truyền: “ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu”.

+ Kết luận

Tại hai cực của lịch sử Lời Hứa, có hai ơn gọi hướng về nhau và hoàn tất lẫn nhau: ơn gọi của Abraham, tổ phụ đón nhận Lời Hứa, và ơn gọi của Giuse, người đã vâng lệnh Chúa truyền nên đã tạo điều kiện cho Lời Hứa được thực hiện, đó là biến cố Đấng Emmanuel ngự đến. Kể từ nay, nhờ đã được Giuse đưa tháp nhập vào trong dòng dõi vua Đavít, Đức Kitô có quan hệ trực tiếp với mỗi người con người cháu của tổ phụ Abraham, dù họ có đông như sao trên trời không thể đếm nổi (x. St 15,5). Công trình của Người không liên hệ đến một lãnh vực nào của cuộc sống loài người, nhưng đi đến tận gốc rễ và thay đổi tương quan với Thiên Chúa. Người sẽ chiến thắng sự bất phục tùng và thái độ nổi loạn, sẽ tha thứ tội lỗi và tái lập sự hiệp thông vào đời sống với Thiên Chúa.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Đức Giêsu là cùng đích và sự hoàn tất của lịch sử Israel, là như một khởi đầu mới phát xuất từ Thiên Chúa. Như thế, Thiên Chúa không bỏ mặc dân Ngài xoay xở bằng sức lực riêng, phó mặc con người cho sức mạnh của lịch sử. Đức Giêsu là quà tặng chân thật Thiên Chúa ban cho dân Ngài. Nơi Người, công trình cứu độ của Thiên Chúa được hoàn tất và sự hiệp thông mật thiết nhất giữa Thiên Chúa và loài người được thiết lập: Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

2. Đức Giêsu là con cháu vua Đavít, nhưng không theo nghĩa là Người có một quyền lực chính trị hoặc quân sự, hoặc Người là một nhà giải phóng chính trị theo nghĩa trần thế. Người sẽ giải thoát loài người khỏi tội lỗi, sẽ đưa con người thoát khỏi tình trạng xa cách với Thiên Chúa và đưa họ về hiệp thông trọn vẹn với Ngài.

3. Bởi vì biết là Thiên Chúa đang can thiệp vào cuộc đời Maria cách đặc biệt mà lại không thấy Ngài giao phó cho mình sứ mạng gì đặc biệt, Giuse tìm cách âm thầm rút lui. Ngài chứng tỏ ngài có một cảm thức sắc bén về Thiên Chúa, một lòng tôn trọng thẳm sâu đối với mầu nhiệm của Thiên Chúa và mầu nhiệm thánh ý Ngài. Người Kitô hữu được mời gọi học nơi Giuse bài học này: tôn trọng đối với các dự phóng của Thiên Chúa nơi mình và nơi kẻ khác, nhạy bén đối với sự cao cả thẳm sâu và sự hiện diện gần gũi của Ngài trong những biến cố lớn nhỏ thuộc cuộc sống hằng ngày.

4. Đức Giêsu chính là Emmanuel, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn khi đọc TM Mt cho đến hết (Mt 28,20). Hôm nay Người là Emmanuel để tiếp tục hỗ trợ chúng ta trong hành trình trần thế, trong nỗ lực loan báo Tin Mừng “cho muôn dân” và cứu độ chúng ta bằng quyền năng của Đấng “đã được ban cho toàn quyền trên trời dưới đất”.

Lm. FX Vũ Phan Long, ofm