Chúa Nhật Lễ Lá Năm C ngày 24 tháng 3 năm 2013


Tin Mừng Lc 22,14 – 23,56


Khi giờ đã đến, Đức Giê-su vào bàn, và các Tông Đồ cùng vào với Người. Người nói với các ông: "Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa". Rồi Người nhận lấy chén, dâng lời tạ ơn và nói: "Anh em hãy cầm lấy mà chia nhau. Bởi vì, Thầy bảo cho anh em biết, từ nay, Thầy không còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến khi Triều Đại Thiên Chúa đến".
Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói: "Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy". Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói: "Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em.
"Nhưng này bàn tay kẻ nộp Thầy đang cùng đặt trên bàn với Thầy. Đã hẳn Con Người ra đi như đã ấn định, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người". Các Tông Đồ bắt đầu bàn tán với nhau xem ai trong Nhóm lại là kẻ toan làm chuyện ấy.
Các ông còn cãi nhau sôi nổi xem ai trong Nhóm được coi là người lớn nhất. Đức Giê-su bảo các ông: "Vua của các dân thì lấy quyền mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. Anh em thì không như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ. Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ.
"Còn anh em, anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp thử thách gian nan. Vì thế, Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en".
Rồi Chúa nói: "Si-mon, Si-mon ơi, kìa Xa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh". Ông Phê-rô thưa với Người: "Lạy Chúa, với Chúa, con sẵn sàng vào tù, và có chết cũng cam". Đức Giê-su lại nói: "Này anh Phê-rô, Thầy bảo cho anh biết, hôm nay gà chưa kịp gáy, thì đã ba lần anh chối là không biết Thầy".
Rồi Người nói với các ông: "Khi Thầy sai anh em ra đi, không túi tiền, không bao bị, không giày dép, anh em có thiếu thốn gì không?" Các ông đáp: "Thưa Thầy, không". Người bảo các ông: "Nhưng bây giờ, ai có túi tiền thì hãy mang theo, ai có bao bị cũng vậy; còn ai chưa có gươm thì bán áo đi mà mua. Vì Thầy bảo cho anh em hay: cần phải ứng nghiệm nơi bản thân Thầy lời Kinh Thánh đã chép: Người bị liệt vào hàng phạm pháp. Thật vậy, những gì đã chép về Thầy sắp được hoàn tất". Các ông nói: "Lạy Chúa, đã có hai thanh gươm đây". Người bảo họ: "Đủ rồi!"
Rồi Người đi ra núi Ô-liu như đã quen. Các môn đệ cũng theo Người. Đến nơi, Người bảo các ông: "Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ". Rồi Người đi cách các ông một quãng, chừng bằng ném một hòn đá, và quỳ gối cầu nguyện rằng: "Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin tha cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha". Bấy giờ có thiên sứ tự trời hiện đến tăng sức cho Người. Người lâm cơn xao xuyến bồi hồi, nên càng khẩn thiết cầu xin. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất. Cầu nguyện xong, Người đứng lên, đến chỗ các môn đệ, thấy các ông đang ngủ vì buồn phiền, Người liền nói với các ông: "Sao anh em lại ngủ? Dậy mà cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ".
Người còn đang nói, thì kìa một đám đông xuất hiện, và kẻ dẫn đầu tên là Giu-đa, một người trong Nhóm Mười Hai. Hắn lại gần Đức Giê-su để hôn Người. Đức Giê-su bảo hắn: "Giu-đa ơi! Anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?" Thấy việc sắp xảy ra, những kẻ đứng chung quanh Người liền hỏi: "Lạy Chúa, chúng con tuốt gươm chém được không?" Thế rồi một người trong nhóm chém tên đầy tớ của thượng tế, làm nó đứt tai bên phải. Nhưng Đức Giê-su lên tiếng: "Thôi, ngừng lại". Và Người sờ vào tai tên đầy tớ mà chữa lành. Rồi Đức Giê-su nói với các thượng tế, lãnh binh Đền Thờ và kỳ mục đến bắt Người: "Các ông đem gươm giáo gậy gộc đến như thể bắt một tên cướp sao? Ngày ngày, tôi ở giữa các ông trong Đền Thờ, mà các ông không tra tay bắt. Nhưng đây là giờ của các ông và quyền lực của tối tăm".
Họ bắt Đức Giê-su, điệu Người đến nhà vị thượng tế. Còn ông Phê-rô thì theo xa xa. Họ đốt lửa giữa sân và đang ngồi quây quần với nhau, thì ông Phê-rô đến ngồi giữa họ. Thấy ông ngồi bên ánh lửa, một người tớ gái nhìn ông chòng chọc và nói: "Cả bác này cũng đã ở với ông ấy đấy!" Ông liền chối: "Tôi có biết ông ấy đâu, chị!" Một lát sau, có người khác thấy ông, liền nói: "Cả bác nữa, bác cũng thuộc bọn chúng!" Nhưng ông Phê-rô đáp lại: "Này anh, không phải đâu!" Chừng một giờ sau, có người khác lại quả quyết: "Đúng là bác này cũng đã ở với ông ấy, vì bác ta cũng là người Ga-li-lê". Nhưng ông Phê-rô trả lời: "Này anh, tôi không biết anh nói gì!" Ngay lúc ông còn đang nói, thì gà gáy. Chúa quay lại nhìn ông, ông sực nhớ lời Chúa đã bảo ông: "Hôm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần". Và ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết.
Những kẻ canh giữ Đức Giê-su nhạo báng đánh đập Người. Chúng bịt mắt Người lại, rồi hỏi rằng: "Nói tiên tri xem: ai đánh ông đó?" Chúng còn thốt ra nhiều lời khác xúc phạm đến Người.
Khi trời sáng, đoàn kỳ mục trong dân, các thượng tế và kinh sư nhóm họp. Họ điệu Người ra trước Thượng Hội Đồng và hỏi: "Ông có phải là Đấng Mê-si-a thì nói cho chúng tôi biết!" Người đáp: "Tôi có nói với các ông, các ông cũng chẳng tin; tôi có hỏi, các ông cũng chẳng trả lời. Nhưng từ nay, Con Người sẽ ngự bên hữu Thiên Chúa toàn năng". Mọi người liền nói: "Vậy ông là Con Thiên Chúa sao?" Người đáp: "Đúng như các ông nói, chính tôi đây". Họ liền nói: "Chúng ta cần gì lời chứng nữa? Chính chúng ta vừa nghe miệng hắn nói!" Toàn thể cử toạ đứng lên, điệu Đức Giê-su đến ông Phi-la-tô.
Họ bắt đầu tố cáo Người rằng: "Chúng tôi đã phát giác ra tên này sách động dân tộc chúng tôi, và ngăn cản dân chúng nộp thuế cho hoàng đế Xê-da, lại còn xưng mình là Mê-si-a, là Vua nữa". Ông Phi-la-tô hỏi Người: "Ông là Vua dân Do-thái sao?" Người trả lời: "Chính ngài nói đó". Ông Phi-la-tô nói với các thượng tế và đám đông: "Ta xét thấy người này không có tội gì". Nhưng họ cứ khăng khăng nói: "Hắn đã xúi dân nổi loạn, đi giảng dạy khắp vùng Giu-đê, bắt đầu từ Ga-li-lê cho đến đây". Nghe nói thế, ông Phi-la-tô liền hỏi xem đương sự có phải là người Ga-li-lê không. Và khi biết Người thuộc thẩm quyền vua Hê-rô-đê, ông liền cho gửi Người lên vua Hê-rô-đê, lúc ấy đang có mặt tại Giê-ru-sa-lem.
Vua Hê-rô-đê thấy Đức Giê-su thì mừng rỡ lắm, vì từ lâu vua muốn được gặp Người bởi đã từng nghe nói về Người. Vả lại, vua cũng mong được xem Người làm một hai phép lạ. Nhà vua hỏi Người nhiều điều, nhưng Người không trả lời gì cả. Các thượng tế và kinh sư đứng đó, tố cáo Người dữ dội. Vua Hê-rô-đê cùng với bọn lính tỏ ra khinh dể Người, khoác cho Người một chiếc áo rực rỡ mà chế giễu, rồi cho giải Người lại cho ông Phi-la-tô. Ngày hôm ấy, vua Hê-rô-đê và tổng trấn Phi-la-tô bắt đầu thân thiện với nhau, chứ trước kia hai bên vẫn hiềm thù.
Bấy giờ ông Phi-la-tô triệu tập các thượng tế, thủ lãnh và dân chúng lại mà nói: "Các ngươi nộp người này cho ta, vì cho là tay kích động dân, nhưng ta đã hỏi cung ngay trước mặt các ngươi, mà không thấy người này có tội gì, như các ngươi tố cáo. Cả vua Hê- rô-đê cũng vậy, bởi lẽ nhà vua đã cho giải ông ấy lại cho chúng ta. Và các ngươi thấy đó, ông ấy chẳng can tội gì đáng chết cả. Vậy ta sẽ cho đánh đòn rồi thả ra". Vào mỗi dịp lễ lớn, ông Phi-la-tô phải phóng thích cho họ một người tù. Nhưng tất cả mọi người đều la ó: "Giết nó đi, thả Ba-ra-ba cho chúng tôi!" Tên này đã bị tống ngục vì một vụ bạo động đã xảy ra trong thành, và vì tội giết người. Ông Phi-la-tô muốn thả Đức Giê-su, nên lại lên tiếng một lần nữa. Nhưng họ cứ một mực la lớn: "Đóng đinh! Đóng đinh nó vào thập giá!" Lần thứ ba, ông Phi-la-tô nói với họ: "Nhưng ông ấy đã làm điều gì gian ác? Ta xét thấy ông ấy không có tội gì đáng chết. Vậy ta sẽ cho đánh đòn rồi thả ra". Nhưng họ cứ la to hơn, nhất định đòi phải đóng đinh Người. Và tiếng la càng thêm dữ dội. Và ông Phi-la-tô phán quyết chấp thuận điều họ yêu cầu. Ông phóng thích người tù họ xin tha, tức là tên bị tống ngục vì tội bạo động và giết người. Còn Đức Giê-su thì ông trao nộp theo ý họ muốn.
Khi điệu Đức Giê-su đi, họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Si-môn, gốc Ky-rê-nê, đặt thập giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giê-su. Dân chúng đi theo Người đông lắm, trong số đó có nhiều phụ nữ vừa đấm ngực vừa than khóc Người. Đức Giê-su quay lại phía các bà mà nói: "Hỡi chị em thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu của chị em. Vì này đây sẽ tới những ngày người ta phải nói: "Phúc thay những đàn bà hiếm hoi, những lòng dạ không sinh không đẻ, những kẻ không cho bú mớm!" Bấy giờ người ta sẽ bắt đầu nói với núi non: Đổ xuống chúng tôi đi!, và với gò nổng: Phủ lấp chúng tôi đi! Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao?" Có hai tên gian phi cũng bị điệu đi hành quyết cùng với Người.
Khi đến nơi gọi là "Đồi Sọ", họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm". Rồi họ bắt thăm mà chia nhau áo của Người.
Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo n: "Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki-tô, của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!" Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: "Nếu ông là vua dân Do-thái thì cứu lấy mình đi!" Phía trên đầu Người, có bản án viết: "Đây là vua người Do-thái".
Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: "Ông không phải là Đấng Ki-tô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!" Nhưng tên kia mắng nó: "Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!" Rồi anh ta thưa với Đức Giê-su: "Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!" Và Người nói với anh ta: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng".
Bấy giờ đã gần tới giờ thứ sáu, thế mà bóng tối bao phủ khắp mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. Mặt trời tối đi. Bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ngay chính giữa. Đức Giê-su kêu lớn tiếng: Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha. Nói xong, Người tắt thở.

(quỳ gối, thinh lặng trong giây lát)

Thấy sự việc xảy ra như thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa: "Người này quả thật là công chính!". Và khi thấy những việc xảy ra như thế, tất cả những đám người đã tụ tập đông đảo để xem cảnh tượng ấy đều đấm ngực trở về nhà. Đứng đàng xa, có tất cả những người quen biết Đức Giê-su cũng như những phụ nữ đã theo Người từ Ga-li-lê; các bà đã chứng kiến những việc ấy.
Và này có một người tên là Giô-xép, thành viên của Thượng Hội Đồng, một người lương thiện, công chính. Ông đã không tán thành quyết định và hành động của Thượng Hội Đồng. Ông là người thành A-ri-ma-thê, một thành của người Do-thái, và cũng là người vẫn mong chờ Nước Thiên Chúa. Ông đến gặp tổng trấn Phi-la-tô để xin thi hài Đức Giê-su. Ông hạ xác Người xuống, lấy tấm vải gai mà liệm, rồi đặt Người vào ngôi mộ đục sẵn trong núi đá, nơi chưa chôn cất ai bao giờ. Hôm ấy là áp lễ, và ngày sa-bát đã ló rạng. Cùng đi với ông Giô-xép, có những người phụ nữ đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê. Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào. Rồi các bà về nhà, chuẩn bị dầu và thuốc thơm. Nhưng ngày sa-bát, các bà nghỉ lễ như Luật truyền.


_______________________________________________________________________________



CHIA SẺ VÀ SỐNG LỜI CHÚA


Chúa Nhật Lễ Lá Năm C ngày 24 tháng 3 năm 2013
Luca 22,14 – 23,56


Tóm lược:
- Bài Tin mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem một cách long trọng. Ngài ngồi trên lưng một con lừa con và được dân chúng hoan hô. Họ trải áo trên lối đi và cầm những cành lá trên tay để tiếp đón Ngài. Ngài ngồi trên lưng một con lừa chớ không ngồi trên lưng ngựa. Điều nầy nói lên sự khiêm tốn của một vị vua luôn tuân phục Thiên Chúa và sẵn sàng chịu đựng đau khổ theo thánh ý Chúa Cha.

Suy niệm:
1- Tại sao Chúa Giêsu lại chọn một con lừa con, chưa ai cỡi để vào thành Giêrusalem?
2- Hôm nay chúng ta cầm cành lá tung hô Chúa Giêsu. Vậy chúng ta coi Ngài là ai và mong đợi gì nơi Ngài?

Thực Hành:
- Cố gắng bỏ tính kiêu căng, hách dịch trong nhà, nơi làm việc và trong giáo xứ.

Trẻ em:
- Em hãy cố gắng nói “có” khi biết và nói “không” khi em không biết.

Cầu Nguyện:
- Lạy Chúa, dân chúng tung hô Chúa hôm nay, nhưng ngày mai họ lại kết án Chúa trên thập giá. Xin Chúa giúp chúng con đừng bắt chước họ mà sẵn sàng đón nhận mọi đau thương khổ cực của cuộc sống trong tâm tình của một người con Chúa biết tuân phục và làm theo thánh ý Ngài. Amen.

_______________________________________________________________________________


VẠN TUẾ ĐẤNG NGỰ ĐẾN NHÂN DANH CHÚA


(Luca 19: 28-40; Isaia 50: 4-7; Philipphê 2: 6-11; Luca 22: 14- 23:56)


Hầu hết mọi người đều biết rằng khi đến nhà thờ vào ngày hôm nay và Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta sẽ được nghe trình thuật về cuộc thương khó. Bài đọc này rất dài, thường được chia ra thành ba phần. Vào các Chúa Nhật khác, chúng ta thường được nghe những trình thuật Tin mừng ngắn hơn, nhưng các bài Tin mừng của hai ngày này thì khá dài. Vào thời đầu, trình thuật thương khó là một bài liên tục, không chia thành những phân đoạn ngắn. Còn hôm nay, người công bố được chọn đọc bài ngắn hơn, tỉ như là trình thuật thương khó của Luca, nhưng tại sao lại cắt ngắn bài mà theo truyền thống vốn đọc đầy đủ? Nếu thánh Luca cho rằng bài thương khó ngắn thôi cũng có thể đáp ứng được mục đích của mình thì ngài có lẽ đã viết ngắn. Với những người đọc có chuẩn bị kỹ thì câu truyện này sẽ khá hấp dẫn, nhất là vì chúng ta không được nghe bài thương khó trong bất kỳ dịp nào khác, và tôi có thể đoán chắc rằng, chúng ta không khi nào chọn bài Tin mừng này để cầu nguyện.

Hôm nay, các nhà thờ sẽ chật kín người: lá được làm phép và phân phát cho mỗi người, rồi sẽ rước từ cuối nhà thờ lên đến cung thánh. Nhưng, chắc chắn là chúng ta không đang diễn lại một biến cố quá khứ của Đức Giêsu, phải không quý vị? Chúng ta không giả vờ như không biết điều gì đang chờ Người phía trước, Người sẽ chết thế nào và sống lại ra sao. Ngược lại, chúng ta đã nghe Tin mừng và cử hành những hiệu quả của Tin mừng ấy suốt năm phụng vụ này. Trong suốt tuần này chúng ta tiếp tục cử hành những điều ấy. Vì thế, hôm nay chúng ta cùng hợp với các tín hữu khắp nơi và mọi thời trong việc cử hành niềm vui này.

Trong Tin mừng Luca, Đức Kitô đang dẫn đầu đoàn người tiến lên Giêrusalem nơi Người sẽ chiến thắng không phải bằng sức mạnh của bạo lực và vũ khí, như hy vọng của đám đông những người chứng kiến Người tiến vào Giêrusalem, nhưng bằng thập giá mà Người tự nguyện vác lấy.

Trong khi bài đọc khá dài thì đổi lại bài giảng sẽ ngắn. Chúng ta có thể tập trung vào bài Tin mừng Luca được đọc trước khi rước lá (19,28-40). Trình thuật Đức Giêsu tiến vào Giêrusalem mang nhiều dấu chỉ Kinh thánh Cựu Ước về niềm mong chờ Đấng Mêsia và trình thuật phong vương của vua. Vì thế, dân chúng trải áo mình dưới chân Đức Giêsu như xưa kia Giêsu được chào đón (2V 9,13). Vua Đavít muốn rằng con trai của ông là Salômôn, người thừa kế ngai vàng, phải cưỡi con la của Đavít (1V 1,33). Con lừa con, chứ không phải một con ngựa chiến, là một con vật biểu tượng cho hòa bình, là dấu chỉ của việc Đấng Mêsia dịu hiền đang đến giữa dân (St 49,11). Đức Giêsu là người đầu tiên ngồi trên con vật này, Người “đăng quang” khi bước vào thành thánh để hoàn tất sứ điệp mà Người đã ra giảng về một triều đại mới dưới sự cai trị của Thiên Chúa.

Một vị vua được mong mỏi từ rất lâu nay đang tiến vào trong thành để lên nắm vương quyền của người. Sự hồ hởi của “vô số các môn đệ” sẽ sớm bị dập tắt bởi những biến cố sắp xảy đến. Vị vua sẽ bị đóng đinh vào thập giá. Sự căng thẳng theo Đức Giêsu bấy lâu nay sẽ không ngừng gia tăng. Đám đông ra đón Người, như chúng ta cũng sẽ làm thế khi Người trở lại vào ngày sau hết (ngày quang lâm). Những trình thuật trong tuần này sẽ có những biến cố đầy kịch tính, nhưng sẽ kết thúc ở nơi sự từ bỏ cách thanh thản của Đức Giêsu: “Lạy Cha, Con xin phó thác hồn Con trong tay Cha” (Lc 23,46). Trên thập giá, phía trên đầu Đức Giêsu có ghi: “Đây là vua dân Dothái” – để mỉa mai Người, nhưng với con mắt đức tin có thể nhìn ra đó lại là một chân lý sâu thẳm hơn.

Khi Đức Giêsu đến gần thành Giêrusalem, Người dừng chân trên Núi Cây Dầu và cầu nguyện cho thành (19,41). Từ vị trí đó, Người có thể đã nhìn thấy thành và cổng Đền Thờ mở ra để đón Người. Người có vẻ khẩn trương vào thành. “Trình thuật hành trình” của thánh Luca (bắt dầu từ chương 9,15) cho thấy Đức Giêsu quyết tâm lên Giêrusalem. Nhưng, điểm nhấn không phải là việc Người vào thành, mà là đi thẳng đến đích mà Người dự định, là Đền Thờ. Một trong những chủ đề xuyên suốt của Tin mừng Luca là cầu nguyện. Điều này được thể hiện qua việc Tin mừng của ngài khởi đi từ Đền Thờ và cũng sẽ kết thúc ở đó. Sau khi sống lại, Đức Giêsu hiện ra cùng các môn đệ và nhắn nhủ họ hãy ở lại Giêrusalem cho đến khi Người gửi Thánh Thần đến. Người lên trời và, thánh Luca cho biết, người ta thấy các môn đệ “không ngừng lên Đền Thờ để ca tụng Thiên Chúa” – và ngay tại Đền Thờ, tin mừng bắt đầu và kết thúc. (Lc 24,53).

Rất dễ chú ý đến bản tính kiên định của những người ùa ra chào đón Đức Giêsu cũng như sự phấn khởi quá khích và những mong muốn sai lầm của các môn đệ. Mới vừa đó thôi họ còn chào đón Người, chẳng lâu sau chính họ lại hò la đòi xử tử Người, còn các môn đệ thì bỏ rơi Người. Quả thật các nhà giảng thuyết khó mà trình bày được.

Đây là những con người tuyệt vọng, cả lịch sử của họ toàn là kiếp nô lệ. Và nay đất của họ lại bị thế lực tàn ác khác chiếm cứ. Dĩ nhiên, họ muốn Thiên Chúa gửi đến cho họ vài người có khả năng đánh đuổi quân thù và tái lập tự do trên mảnh đất mà Thiên Chúa đã ban cho. Đó chẳng phải là điều mà Thiên Chúa muốn cho họ hay sao? Đức Giêsu từ trên Núi Cây Dầu đi xuống và những môn đệ đang phấn khởi la lên “Vạn tuế đức vua, đấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao! Vinh quang trên các tầng trời!” chắc chắn đã làm lóe lên niềm hy vọng trong dân chúng đang tụ tập quanh đó. Một người Galilê cùng với các môn đệ khố rách áo ôm liệu có phải là cách Thiên Chúa đáp lại lời kêu xin bao đời của họ chăng? Liệu “Đức vua ngự đến nhân danh Chúa” này sẽ là người tái lập vương triều Đavít? Chắc họ cũng phải đắn đo đôi chút, nhưng với cái chết của Đức Giêsu thì niềm hy vọng này cũng tắt ngúm.

Dân chúng sẽ sớm thất vọng. Thiên Chúa đã không sai đến một đấng cứu tinh giỏi tài quân sự để chiến đấu. Nhưng, như thánh Phaolô nói với chúng ta hôm nay, “dẫu là Thiên Chúa… nhưng Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ”. Quả là cách biểu lộ vinh quang kỳ lạ! Thay vì là một chiến thắng uy hùng thì Thiên Chúa lại gửi đến một người dám hy sinh chính mình cho chúng ta.

Khi – người nghèo nghe Tin mừng; những kẻ đang bị giam cầm sẽ được tự do; người mù được thấy Chúa trên trần gian – hay nói cách khác, khi chúng ta cảm nghiệm được “năm hồng ân” mà Đức Kitô hứa trong hội đường (Lc 4,16-21), thì chúng ta cũng sẽ hy sinh chính mình vì tha nhân, như Đức Kitô đã làm. Những gì Người thực hiện cho chúng ta hôm nay sẽ hoàn thành lời Người hứa với thính giả trong hội đường trước kia.

Như đã nói trên đây: những gì chúng ta đang cử hành không chỉ là việc nhìn lại những đau khổ và cái chết của Đức Giêsu trên thập giá. Một lần nữa, trong tuần này chúng ta lại được nghe Tin mừng về công trình cứu chuộc của Đức Giêsu và được Tin mừng ấy canh tân, để rồi chúng ta lại dám can đảm dấn thân bước theo con đường thập giá của Đức Giêsu trong việc phục vụ người khác.

L.m. Jude Siciliano, OP
Chuyển ngữ: Anh Em HV. Đaminh Gò Vấp