Bạn Đang Xem:   Suy Niệm Lời Chúa Hằng Tuần


Chúa Nhật Lễ Lá - Năm A - ngày 13 tháng 4 năm 2014


BÀI THƯƠNG KHÓ: Mt 26:14-27:66


C. Bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, một trong nhóm Mười Hai, tên là Giuđa Iscariô, đi gặp các thượng tế và nói với họ: S. "Các ông cho tôi bao nhiêu, tôi nộp Người cho các ông?" C. Họ liền ấn định cho ba mươi đồng bạc. Và từ đó, hắn tìm dịp thuận tiện để nộp Người. Ngày thứ nhất tuần lễ ăn bánh không men, các môn đệ đến thưa Chúa Giêsu rằng: S. "Thầy muốn chúng con sửa soạn cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua ở đâu?" C. Chúa Giêsu đáp: "Các con hãy vào thành, đến với một người kia nói rằng: Thầy bảo, giờ Ta đã gần, Ta sẽ mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ tại nhà ông".

C. Các môn đệ làm như Chúa Giêsu truyền và sửa soạn Lễ Vượt Qua. Chiều đến, Người ngồi bàn ăn với mười hai môn đệ.

Và khi các ông đang ăn, Người nói: "Thầy nói thật với các con: có một người trong các con sẽ nộp Thầy". C. Môn đệ rất buồn rầu và từng người bắt đầu hỏi Người: S. "Thưa Thầy, có phải con không?" C. Người trả lời rằng: "Kẻ giơ tay cùng chấm vào đĩa với Thầy, đó chính là kẻ nộp Thầy. Thực ra, Con Người sẽ ra đi như đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ sẽ nộp Con Người! Thà người đó đừng sinh ra thì hơn!" C. Giuđa, kẻ phản bội, cũng thưa Người rằng: S. "Thưa Thầy, có phải con chăng?" C. Chúa đáp: "Đúng như con nói".

C. Vậy khi mọi người còn đang ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán: "Các con hãy cầm lấy mà ăn, vì này là Mình Ta". C. Đoạn Người cầm lấy chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đệ mà phán: "Tất cả các con hãy uống chén này, vì này là Máu Ta, Máu Tân Ước, sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội. Thầy bảo các con: Từ nay, Thầy sẽ không còn uống chất nho này nữa cho đến ngày Thầy sẽ uống rượu mới cùng các con trong nước Cha Thầy".

C. Sau khi hát thánh vịnh, Thầy trò liền lên núi Ôliu. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo các ông: "Tất cả các con sẽ vấp phạm vì Thầy trong chính đêm nay, vì có lời chép rằng: 'Ta sẽ đánh chủ chăn, và các chiên trong đoàn sẽ tan tác'. Nhưng sau khi Thầy sống lại, Thầy sẽ đến xứ Galilêa trước các con". C. Phêrô liền thưa: S. "Dù tất cả vấp phạm vì Thầy, riêng con, con sẽ không bao giờ vấp phạm". C. Chúa Giêsu đáp: X "Thầy bảo thật con, chính đêm nay, trước khi gà gáy, con sẽ chối Thầy ba lần". C. Phêrô lại thưa: S. "Dù có phải chết cùng Thầy, con sẽ không chối Thầy". C. Và tất cả các môn đệ cùng nói như vậy.

Rồi Chúa Giêsu cùng đi với các ông đến một chỗ gọi là Ghếtsêmani, và Người bảo các môn đệ: "Các con hãy ngồi đây để Thầy đến đàng kia cầu nguyện". C. Đoạn Chúa đưa Phêrô và hai người con ông Giêbêđê cùng đi, Người bắt đầu cảm thấy buồn bực và sầu não. Lúc ấy, Người bảo các ông: "Linh hồn Thầy buồn sầu đến nỗi chết được; các con hãy ở lại đây và thức với Thầy".

C. Tiến xa hơn một chút, Người sấp mặt xuống, cầu nguyện và nói: "Lạy Cha, nếu được, xin cho Con khỏi chén này! Nhưng đừng như ý Con muốn, một theo ý Cha muốn". C. Người trở lại cùng các môn đệ và thấy các ông đang ngủ, liền nói với Phêrô: "Chẳng lẽ các con không thức cùng Thầy được lấy một giờ ư? Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi lâm cơn cám dỗ: vì tinh thần thì lanh lẹ, nhưng xác thịt thì yếu đuối". C. Rồi Người lại đi cầu nguyện lần thứ hai mà rằng: "Lạy Cha, nếu chén này không thể qua đi được mà Con phải uống, thì xin theo ý Cha". C. Đoạn Người trở lại và thấy các ông còn ngủ, vì mắt các ông nặng trĩu. Người để mặc các ông và đi cầu nguyện lần thứ ba, vẫn lại những lời như trước. Sau đó Người trở lại với các môn đệ và bảo: "Bây giờ các con hãy ngủ và nghỉ ngơi đi! Này sắp đến giờ Con Người sẽ bị nộp trong tay những kẻ tội lỗi. Các con hãy chỗi dậy. Chúng ta hãy đi: này kẻ nộp Thầy đã tới gần". C. Người còn đang nói, thì đây, Giuđa, một trong nhóm mười hai, và cùng với y có lũ đông mang gươm giáo gậy gộc, do các thượng tế và kỳ lão trong dân sai đến. Vậy tên nội công đã dặn họ ám hiệu này: S. "Hễ tôi hôn người nào, thì đó chính là Người, các ông hãy bắt lấy". C. Tức khắc Giuđa tới gần Chúa Giêsu và nói: S. "Chào Thầy". C. Và nó hôn Người. Nhưng Chúa Giêsu bảo: "Hỡi bạn, bạn đến đây làm chi?" C. Lúc đó chúng xông tới, tra tay bắt Chúa Giêsu. Ngay sau đó, một trong những người vẫn theo Chúa Giêsu, giơ tay rút gươm và chém tên đầy tớ thầy thượng tế đứt một tai. Chúa Giêsu liền bảo: "Con hãy xỏ ngay gươm vào bao: vì tất cả những kẻ dùng gươm sẽ chết vì gươm. Nào con tưởng rằng Thầy không thể xin Cha Thầy và Ngài sẽ tức khắc gởi đến hơn mười hai cơ binh thiên thần sao? Mà như thế thì làm sao ứng nghiệm lời Kinh Thánh bảo: Sự thế phải như vậy?" C. Lúc đó Chúa Giêsu nói cùng đám đông rằng: "Các ngươi cầm gươm giáo gậy gộc đi bắt Ta như bắt tên cướp ư? Hằng ngày Ta ngồi trong đền thờ, giữa các ngươi, mà các ngươi không bắt Ta. Nhưng tất cả sự đó xảy ra là để ứng nghiệm lời các tiên tri đã chép". C. Bấy giờ các môn đệ bỏ Người và chạy trốn hết.

Những kẻ đã bắt Chúa Giêsu điệu Người đến thầy thượng tế Caipha. Nơi đây các luật sĩ và kỳ lão đã hội họp. Phêrô theo Người xa xa cho tới dinh thầy thượng tế. Rồi ông vào trong dinh ngồi cùng bọn đầy tớ, xem việc xảy ra thế nào. Vậy các thượng tế và tất cả công nghị tìm chứng gian cáo Chúa Giêsu để lên án xử tử Người. Và họ đã không tìm được, mặc dù đã có một số đông chứng nhân ra mắt. Sau cùng, hai người làm chứng gian đến khai rằng: S. "Người này đã nói: Ta có thể phá đền thờ Thiên Chúa và xây cất lại trong ba ngày". C. Bấy giờ thầy thượng tế đứng lên nói: S. "Ông không trả lời gì về các điều những người này đã cáo ông ư?" C. Nhưng Chúa Giêsu làm thinh, nên thầy thượng tế bảo Người: S. "Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, ta truyền cho ông hãy nói cho chúng ta biết: Ông có phải là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa không?" C. Chúa Giêsu trả lời: "Ông đã nói đúng. Nhưng Ta nói thật với các ông: rồi đây các ông sẽ xem thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng, và sẽ đến trên đám mây". C. Bấy giờ thầy thượng tế xé áo mình ra và nói: S. "Nó đã nói lộng ngôn! Chúng ta còn cần gì đến nhân chứng nữa? Đây các ngài vừa nghe lời lộng ngôn. Các ngài nghĩ sao?" C. Họ đáp lại: S. "Nó đáng chết!" C. Bấy giờ chúng nhổ vào mặt Người, đấm đánh Người, lại có kẻ tát vả Người mà nói rằng: S. "Hỡi Kitô, hãy bói xem, ai đánh ông đó?" C. Còn Phêrô ngồi ở ngoài sân. Một đầy tớ gái lại gần và nói: S. "Ông nữa, ông cũng đã theo Giêsu người xứ Galilêa". C. Nhưng ông chối trước mặt mọi người mà rằng: S. "Tôi không hiểu chị muốn nói gì?" C. Khi ông lui ra đến cổng, một đầy tớ gái khác thấy ông, liền nói với những người ở đó: S. "Ông này cũng theo Giêsu người Nadarét". C. Ông thề mà chối rằng: S. "Tôi không biết người ấy". C. Một lúc sau, mấy người đứng đó lại gần mà nói với Phêrô rằng: S. "Đúng rồi, ngươi cũng thuộc bọn ấy. Vì chính giọng nói của ngươi tiết lộ tông tích ngươi". C. Bấy giờ ông rủa mà thề rằng: ông không hề biết người ấy. Tức thì gà gáy. Phêrô nhớ lại lời Chúa Giêsu đã nói: "Trước khi gà gáy, con sẽ chối Ta ba lần", và ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết.

Trời vừa sáng, các thượng tế và kỳ lão trong dân hội họp bày mưu giết Chúa Giêsu. Họ trói Người và điệu đi nộp cho tổng trấn Phongxiô Philatô. Bấy giờ Giuđa, kẻ nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận, đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ lão mà nói rằng: S. "Tôi đã phạm tội vì nộp máu người công chính". C. Nhưng họ trả lời: S. "Can chi đến chúng tôi! Mặc kệ anh!" C. Anh ta ném những đồng bạc đó vào trong đền thờ và ra đi thắt cổ. Các thượng tế lượm lấy bạc đó và nói: S. "Không nên để bạc này vào kho vì là giá máu". C. Sau khi bàn bạc, họ lấy tiền đó mua thửa ruộng của người thợ gốm làm nơi chôn cất những người ngoại kiều. Bởi thế, ruộng ấy cho đến ngày nay được gọi là Haselđama, nghĩa là ruộng máu. Như vậy là ứng nghiệm lời tiên tri Giêrêmia nói: "Chúng đã lấy ba mươi đồng bạc là giá do con cái Israel đã mặc cả mà bán Đấng cao trọng. Và họ mang tiền đó mua ruộng của người thợ gốm như lời Chúa đã truyền cho tôi".

Vậy Chúa Giêsu đứng trước quan tổng trấn, và quan hỏi Người rằng: S. "Ông có phải là Vua dân Do-thái không?"

C. Chúa Giêsu đáp: "Ông nói đúng!" C. Nhưng khi các thượng tế và kỳ lão tố cáo Người thì Người không trả lời chi cả. Bấy giờ Philatô bảo Người: S. "Ông không nghe thấy tất cả những điều họ tố cáo ông sao?" C. Chúa Giêsu cũng không đáp lại về một điều nào, khiến quan tổng trấn hết sức ngạc nhiên.

Vào mỗi dịp lễ trọng, quan tổng trấn có thói quen phóng thích cho dân một người tù tuỳ ý họ xin. Lúc ấy có một phạm nhân nổi tiếng tên là Baraba. Vậy Philatô nói với dân chúng đã tụ tập lại đó rằng: S. "Các ngươi muốn ta phóng thích ai, Baraba hay Giêsu mà người ta vẫn gọi là Kitô?" C. Quan biết rõ chỉ vì ghen ghét mà chúng đã nộp Người. Vậy trong khi quan ngồi xét xử, bà vợ sai người nói cùng quan rằng: S. "Xin ông đừng can thiệp gì đến vụ người công chính ấy, vì hôm nay trong một giấc chiêm bao, tôi đã phải đau khổ rất nhiều vì người ấy". C. Nhưng các thượng tế và kỳ lão xúi giục dân xin tha Baraba và giết Chúa Giêsu. Quan lại lên tiếng hỏi họ: S. "Trong hai người đó các ngươi muốn ta phóng thích ai?" C. Họ thưa: S. "Baraba!" C. Philatô hỏi: S. "Vậy đối với Giêsu gọi là Kitô, ta phải làm gì?" C. Họ đồng thanh đáp: S. "Đóng đinh nó đi!" C. Quan lại hỏi: S. "Nhưng người này đã làm gì nên tội?" C. Chúng càng la to: S. "Đóng đinh nó đi!" C. Bấy giờ Philatô thấy mất công, lại thêm náo động, nên ông lấy nước rửa tay trước mặt dân chúng và nói: S. "Ta vô can về máu người công chính này, mặc kệ các ngươi". C. Toàn dân đáp: S. "Hãy để cho máu nó đổ trên chúng tôi và trên con cái chúng tôi". C. Bấy giờ quan phóng thích Baraba cho họ, còn Chúa Giêsu thì trao cho họ đánh đòn, rồi đem đi đóng đinh vào thập giá.

Bấy giờ lính tổng trấn liền điệu Chúa Giêsu vào trong công đường và tập họp cả cơ đội lại chung quanh Người. Họ lột áo Người ra, khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi quấn một vòng gai đặt trên đầu Người và trao vào tay mặt Người một cây sậy, họ quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng rằng: S. "Tâu vua dân Do-thái!" C. Đoạn họ khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy đập trên đầu Người. Khi đã chế nhạo Người xong, họ lột áo choàng đỏ ra, mặc y phục cũ lại cho Người và điệu Người đi đóng đinh vào thập giá. Lúc đi ra, họ gặp một người thành Xyrênê tên là Simon, liền bắt ông vác đỡ thánh giá cho Người.

Họ đi đến một nơi gọi là Golgotha, nghĩa là Núi Sọ. Họ cho Người uống rượu hoà với mật đắng, Người chỉ nếm qua nhưng không muốn uống. Khi đã đóng đinh Người trên thập giá rồi, họ rút thăm chia nhau áo Người, để ứng nghiệm lời tiên tri rằng: "Chúng đã chia nhau áo Ta, còn áo ngoài của Ta, chúng đã bắt thăm". Rồi họ ngồi lại canh Người. Họ cũng đặt trên đầu Người bản án viết như sau: Người này là Giêsu, vua dân Do-thái. Lúc ấy, cùng với Người, họ đóng đinh hai tên trộm cướp, một tên bên hữu, một tên bên tả.

Những người đi ngang qua, lắc đầu chế diễu Người và nói: S. "Kìa, ngươi là kẻ phá đền thờ và xây cất lại trong ba ngày, hãy tự cứu mình đi, nếu là Con Thiên Chúa, thì hãy xuống khỏi thập giá đi!" C. Các thượng tế cùng luật sĩ và kỳ lão cũng chế nhạo Người rằng: S. "Nó đã cứu được kẻ khác mà không cứu nổi chính mình! Nếu nó là vua dân Do-thái, thì bây giờ hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta sẽ tin nó. Nó đã trông cậy Thiên Chúa, nếu Ngài thương nó thì bây giờ Ngài hãy cứu nó, vì nó nói: "Ta là Con Thiên Chúa!" C. Cả những tên cướp bị đóng đinh trên thập giá với Người cũng nhục mạ Người như thế. Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt. Vào khoảng giờ thứ chín thì Chúa Giêsu kêu lớn tiếng: "Eli, Eli, lema sabachtani!" C. Nghĩa là: "Lạy Chúa con, lạy Chúa con! sao Chúa bỏ con!"

C. Có mấy người đứng đó nghe vậy nói rằng: S. "Nó gọi tiên tri Elia". C. Lập tức một người trong bọn chạy đi lấy một miếng bọt biển, nhúng đầy dấm và cuốn vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Nhưng có kẻ lại bảo: S. "Hãy chờ xem Elia có đến cứu nó không?" C. Đoạn Chúa Giêsu lại kêu lên lớn tiếng và trút hơi thở.

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

Bỗng nhiên màn đền thờ xé ra làm đôi từ trên xuống dưới, đất chuyển động, đá nứt ra. Các mồ mả mở tung và xác của nhiều vị thánh đã qua đời được sống lại. Và sau khi Chúa sống lại, họ ra khỏi mồ, vào thành thánh và hiện ra cùng nhiều người. Còn viên sĩ quan và những kẻ cùng ông canh giữ Chúa Giêsu, thấy đất chuyển động và các sự xảy ra, thì thất kinh sợ hãi và nói: S. "Đúng người này là Con Thiên Chúa". C. Ở đó cũng có nhiều phụ nữ đứng xa xa; họ là những người đã theo giúp Chúa Giêsu từ xứ Galilêa. Trong số đó có Maria Mađalêna, Maria mẹ của Giacôbê và Giuse, và mẹ các người con của Giêbêđê.

Tới chiều có một người giàu sang quê ở Arimathia tên là Giuse, cũng đã làm môn đệ Chúa Giêsu, ông đi gặp Philatô và xin xác Chúa Giêsu. Bấy giờ Philatô truyền giao xác cho ông. Vậy ông Giuse lấy xác, liệm trong một khăn sạch, và đặt trong mồ mà ông đã cho đục trong đá, rồi ông lăn một tảng đá lớn lấp cửa mồ lại và ra về. Còn Maria Mađalêna và bà Maria kia cùng ngồi đó nhìn vào mộ.

Hôm sau, tức là sau ngày chuẩn bị mừng lễ, các thượng tế và biệt phái đến dinh Philatô trình rằng: S. "Thưa ngài, chúng tôi nhớ, lúc sinh thời tên bịp bợm ấy có nói: 'Sau ba ngày, Ta sẽ sống lại'. Vậy xin ngài truyền lệnh cho canh mộ đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ nó lấy trộm xác rồi phao đồn với dân chúng rằng: Người đã từ cõi chết sống lại! Và như thế, sự gian dối này lại còn tai hại hơn trước". C. Philatô trả lời: S. Các ông đã có lính canh thì cứ đi mà canh như ý. C. Họ liền đi và đóng ấn niêm phong tảng đá và cắt lính canh giữ mồ.

_______________________________________________________________________________


CHIA SẺ VÀ SỐNG LỜI CHÚA


Chúa Nhật Lễ Lá - Năm A - ngày 13 tháng 4 năm 2014
BÀI THƯƠNG KHÓ: Mt 26:14-27:66


_______________________________________________________________________________


ANH EM HÃY UỐNG “CHÉN” CỦA THẦY


(Làm phép và rước lá: Mt 21:1-11)


(Isaia 50:4-7; Tvịnh 21; Philipphê 2:6-11 ; Mátthêu 26:14-27:66)


Tôi lưỡng lự để chọn chủ đề cho bài giảng của mình. Vì Trình thuật cuộc Thương Khó của Đức Giêsu theo thánh Mátthêu thật phong phú và cũng thật… dài, nên vị giảng thuyết dễ bị cám dỗ chỉ đọc cho hết mà không giảng. Riêng tôi, tôi hết sức chống lại cơn cám dỗ này. Trong khi có thể rút gọn bài giảng, tôi lại muốn cố gắng giải thích Lời Chúa cho thế giới ngày nay. Và tôi quyết định chỉ tập trung vào một hình ảnh trong trình thuật cuộc Thương Khó, đó là Chén Thánh. “Khi ấy, Người cầm lấy chén, dâng lời chúc tụng và trao cho các môn đệ mà nói: ‘Hãy nhận lấy mà uống, này là Chén Máu Thầy, Máu Giao ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội.’”

Thánh Mátthêu đã dùng 1/3 Tin Mừng của mình để viết về cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu (16,21-28.20). Có nhiều chủ đề để phân biệt lối trình thuật của thánh Mátthêu về cuộc thương khó và sự phục sinh. Ví dụ, trong Tin Mừng thánh Mátthêu, Đức Giêsu hoàn toàn chủ động trong các biến cố sau cùng của đời mình. Người biết điều gì sẽ xảy đến cho mình, tuy vậy, Người vẫn không dùng quyền năng để thay đổi chúng (26,53). Thánh Mátthêu đã làm rõ việc Đức Giêsu hoàn toàn tự nguyện chọn con đường thập giá (26,37-38). Đức Giêsu không tìm kiếm một cuộc tử đạo chỉ đơn thuần để được tử đạo. Đúng hơn, Người chấp nhận “chén thánh” đau khổ vì thánh ý Thiên Chúa. Người sẽ “uống” chén ấy. Uống chén đau khổ nghĩa là chấp nhận bị phản bội, ruồng bỏ, phải đau khổ và phải chết. Vì chúng ta mà Đức Giêsu sẽ phải uống chén đã được dọn sẵn cho Người.

Đức Giêsu đã mượn hình ảnh biểu tượng bữa tiệc Vượt Qua để diễn tả cho các môn đệ biết những việc Người sắp thực hiện, đồng thời nói cho các ông biết những gì Người muốn các ông đáp lại. Vốn thuộc truyền thống của mình, các môn đệ hiểu được thế nào là bữa tiệc Vượt Qua: đó là lễ kỷ niệm dân Do Thái được giải thoát khỏi ách nô lệ. Tại bữa ăn cuối cùng với Đức Giêsu, các môn đệ sẽ biết rằng Người là Đấng giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Thiên Chúa đã dẫn đưa dân Israel đến bờ bến bình an; và giờ đây, dẫu nơi họ có muôn vàn khó khăn, nhưng chính Đức Giêsu sẽ dẫn họ đến bờ bến bình an trong “Vương Quốc của Cha Người”. Đức Giêsu không xem việc bị bắt giữ và cái chết là kết thúc sứ mạng của Người ở trần gian. Thậm chí trong những lúc cùng cực nhất, Đức Giêsu vẫn hy vọng hướng về một trời mới đất mới cùng với Chúa Cha. Để uống chén mà Đức Giêsu đã ban tặng, chúng ta hãy củng cố và canh tân giao ước giữa chúng ta với Thiên Chúa, đồng thời hãy khấn hứa giữ trọn giao ước ấy.

Hạn từ “chén” xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau trong các bản văn Kinh thánh. Ví dụ, “chén an ủi” trong sách ngôn sứ Giêrêmia (16,7). Các thánh vịnh thường nói về việc nâng “chén chúc tụng”, “chén cảm tạ” sau khi nhận được ơn trợ giúp (Tv 16,13). Tin Mừng Mátthêu (20,22) thuật lại rằng: chủ nhà đổ đầy chén thực khách, và như vậy, mỗi chén ám chỉ về phận vụ của mỗi người. Thánh vịnh (75,9) diễn tả về “chén đầy mùi vị đắng cay.” Mỗi chén này, và còn nhiều chén khác, đều là những chén biểu tượng (x. John L.Mckenzie, S.J., “Từ điển Kinh Thánh”, nxb Bruce, New York, 1965).

Trong Tin Mừng thánh Máccô (15,22), chúng ta đọc thấy rằng: “và tất cả đều uống chén này.” Nhưng trong Tin Mừng thánh Mátthêu, Đức Giêsu đưa ra lệnh truyền: “Tất cả các con hãy cầm lấy mà uống.” Một lần nữa, thánh sử Mátthêu muốn diễn tả việc Đức Giêsu luôn nắm quyền chủ động trong tất cả các việc. Người đang mời gọi chúng ta cùng chia sẻ định mệnh của Người. Đây là “máu giao ước” (Xh 24,8), một hình ảnh nhắc nhở về việc ông Môsê ký giao ước với Đức Chúa và rảy máu của động vật trên dân. Giờ đây, máu “sẽ được đổ ra cho tất cả.” Người Tôi Tớ của Thiên Chúa sắp chịu đau khổ và Người chấp nhận chén đắng ấy vì chúng ta. Điểm tập trung chính, vốn là những gì mà Đức Giêsu đã, đang, và còn tiếp tục thực hiện, đó là tha thứ tội lỗi (1,21; 6,12; 9,6). Chúng ta có nhận lấy cùng chén ấy không? Thánh Mátthêu còn thêm rằng: “Để nhiều người được tha tội.”

Việc uống chén cứu độ cũng nhắc nhở chúng ta rằng, trong tương lai, chúng ta cùng với Đức Giêsu uống “sản phẩm của nho này” nơi bàn tiệc Thiên Quốc. Cho đến khi thời điểm ấy đến, “giờ đây” Đức Giêsu phải chịu đau khổ. Mọi sự sẽ được hoàn tất vào một ngày nào đó; song điều ấy vẫn chưa xảy ra. Vì thế, chúng ta uống chén này để tưởng nhớ cuộc khổ nạn của Đức Giêsu và lời hứa về một sự hoàn tất trong tương lai.

Khung cảnh là bữa ăn Vượt Qua; một bữa ăn được gia đình và những người thân yêu cùng chia sẻ. Đức Giêsu đã nhiều lần dùng bữa cùng các bạn hữu, tội nhân và những người bị ruồng bỏ, và đây là bữa ăn cuối cùng của Người với các môn đệ. Đức Giêsu thiết lập mối dây liên kết với những ai đồng bàn với Người. Chúng ta không nên cảm thấy xấu hổ hay e thẹn khi đồng bàn với Người. Chúng ta giơ tay cầm lấy chén để uống, không phải vì chúng ta là những môn đệ hoàn hảo, nhưng vì chúng ta là những kẻ đang khao khát chén này. Chúng ta muốn sống một cuộc đời mà Đức Giêsu đã mời gọi chúng ta đón nhận lấy, song chúng ta cần sự trợ giúp của Người. Vì vậy, chúng ta phải uống Chén Máu mà Đức Giêsu đã đổ ra cho chúng ta được ơn tha thứ và chữa lành.

Chúng ta được nhắc nhớ về giao ước giữa chúng ta với Đức Kitô tại bữa tiệc Vượt Qua này. Bữa tiệc đó bảo đảm cho giao ước không gì có thể phá vỡ được. Tất nhiên Thiên Chúa không bao giờ vi phạm giao ước. Nếu chúng ta tham dự bữa tiệc, khi đó chúng ta sẽ nhớ về chén thánh, nhớ về những giọt máu đã được đổ ra vì ơn tha thứ tội lỗi cho chúng ta. Ơn tha thứ đã được ban, và chúng ta lại uống chén ấy.

Trong câu chuyện, Đức Giêsu là Đấng trung tín, tất nhiên không như ông Giuđa thất tín, và ông Phêrô quá tự tin. Đức Giêsu thể hiện sự trung tín bằng việc nhận lấy và uống chén đó. Chúng ta cũng hãy tiến đến mà uống, để diễn tả niềm khao khát được bước theo con đường của Đức Giêsu, cho dù phải trả bất cứ giá nào. Chúng ta hãy cầm lấy chén, chén đó giúp chúng ta sống qua được khát vọng để trở nên những môn đệ của Đức Kitô, trong niềm mơ ước cũng như trong hành động.

Đã bao lần và trong những dịp nào thì chúng ta nâng cao “chén rượu” và hứa hẹn nhiều điều?… Thưa rằng, có thể đó là những dịp: sau một đám tang, chúng ta hứa sẽ tưởng nhớ người mới qua đời, đồng thời an ủi những người bị mất người thân; tại một bữa tiệc cưới, khi cha mẹ hoặc các thực khách cùng nâng ly chúc mừng đôi tân hôn với những hứa hẹn về cả những niềm vui, và những hy sinh đang ở phía trước; khi được tin một đứa trẻ vừa chào đời, một người bạn vừa tốt nghiệp cao đẳng hay trung học; trong Đêm Giao thừa khi chúng ta tạm biệt năm cũ và hy vọng những điều tốt đẹp nhất trong năm mới; ở một bữa ăn đặc biệt khi chúng ta cầu hôn; hoặc để mừng một đứa con trai hay con gái từ chiến trường trở về, v.v…

“Chén” mà chúng ta chia sẻ nói rất nhiều về việc tạ ơn, sự trợ giúp, niềm vui, hy vọng, hiệp thông và tất nhiên cả sự hy sinh nữa. Chúng ta không xa lạ gì với những ý nghĩa trên đây. Khi hiệp thông Thánh Thể hôm nay, ý thức sự cần thiết của việc cử hành này và cụ thể những hy sinh của mình, chúng ta cầm lấy chén mà uống để tưởng nhớ và hy vọng.

Lm. Jude Siciliano, OP
Chuyển ngữ: Anh Em HV. Đaminh Gò Vấp