Bạn Đang Xem:   Suy Niệm Lời Chúa Hằng Tuần


Chúa Nhật Lễ Chúa Phục Sinh Năm B

ngày 5 tháng 4 năm 2015


Tin Mừng Ga 20, 1-9


Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: "Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu". Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong. Vậy Simon-Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng nhỏ để đó, và khăn liệm che đầu Người trước đây, khăn này không để lẫn với dây băng, nhưng cuộn lại để riêng một chỗ. Bấy giờ môn đệ kia mới vào, dù ông đã tới mồ trước. Ông thấy và ông tin, vì chưng các ông còn chưa hiểu rằng, theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết.

_______________________________________________________________________________


CHIA SẺ VÀ SỐNG LỜI CHÚA


Chúa Nhật Lễ Chúa Phục Sinh - Năm B - ngày 5 tháng 4 năm 2015
(Cv 10:34a, 37-43; T.vịnh 117; Côlôssê 3:1-4; Gioan 20:1-9 )

Chi Tiết Hay:
• Tường thuật ngôi mộ trống này khởi đầu phần cuối của Phúc Âm Gioan, tức chương 20. Phần này gồm: Đức Giêsu phục sinh (câu 1-10) và hiện ra với
a) Maria Mác-đa-la (11-18)
b) Các môn đệ không kể Tôma (19-23)
c) Các môn đệ và cả Tôma (24-29).
• Trong câu 19:41 của đoạn ngay trước, Đức Giêsu được mai táng trong ngôi mộ tại một thửa vườn. "Ngôi mộ" này có lẽ giống một cái hang, có cửa ra vào cao khoảng một thước; vì thế môn đệ kia đã phải cúi xuống để nhìn vào trong (c.5).
• Thi thể của Đức Giêsu đã không được liệm vào hòm nhưng có lẽ đặt trong một cái "arcosolia", một cái khe hình bán cung, được cắt vào ngang vách hang như một chiếc giường, sâu khoảng một thước.
• Thi thể được ướp dầu thơm và có băng vải cuốn bọc, mặt thì che bằng tấm khăn nhỏ. Sự sắp xếp các băng vải và khăn che mặt cho thấy thi thể không bị mất cắp vì kẻ trộm không cởi băng và khăn, xếp gọn gàng, rồi mang cái xác đi không.

• Tường thuật này có những điểm khó hiểu, ví dụ như việc bà Maria Mác-đa-la ra mộ một mình nhưng lại nói với Phêrô là "chúng tôi" (c.2). Ngoài ra trong đó còn nhiều chi tiết khác biệt với những tường thuật phục sinh Nhất lãm.
• Câu 9 trong bản dịch mà chúng ta đang dùng của nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ có thể bị hiểu lầm vì nó ám chỉ từ đó "hai ông" đã hiểu Kinh thánh. Cha Thuấn (và các bản Anh ngữ) dịch là: "Là vì họ chưa hiểu lời Kinh thánh là Ngài phải sống lại từ cõi chết." Dịch như thế cho thấy họ vẫn chưa hiểu Kinh thánh. Ngoài ra, đại từ "họ" chính xác hơn "hai ông" vì nó có thể bao gồm cả Maria Mác-đa-la nữa.
• Xét theo bản dịch của Cha Thuấn, câu 8 ("ông đã thấy và đã tin") xem ra trái nghĩa câu 9 ("họ chưa hiểu lời Kinh thánh"). Giải thích dễ hiểu nhất là người môn đệ nhìn thấy những chứng tích trong ngôi mộ, chứ không dựa theo Kinh thánh, mà tin Đức Giêsu đã sống lại.

Một Điểm Chính:
Sự phục sinh là vinh quang cao cả nhất của Đức Giêsu. Đó là sự chiến thắng trên sự chết. Đó là nền tảng của Đức tin Kitô.

Suy Niệm:
1. Hình dung bạn đang đứng trước ngôi mộ trống, nhìn vào đó, bạn thấy gì? Ngửi thấy gì?
2. Đặt mình vào chỗ của Phêrô: cắn rứt vì phản bội Thầy, đau khổ vì cái chết của Thầy, và bây giờ ngay cả xác Thầy cũng không còn! Bạn có cảm nghiệm mất Thầy chưa?
3. Người môn đồ Đức Giêsu thương mến nhìn thấy băng vải và khăn và đã tin. Bạn đã có dấu vết bằng chứng cụ thể nào trong đời, để giúp bạn tin vào Đức Kitô Phục sinh?

_______________________________________________________________________________


ÔNG THẤY VÀ ĐÃ TIN


(Cv 10:34a, 37-43; T.vịnh 117; Côlôssê 3:1-4; Gioan 20:1-9)


Quý vị thường làm gì khi người thân yêu qua đời? Sau cú sốc và nỗi buồn ngay khi hay tin, sau khi canh thức và an táng; sau khi đặt những cánh hoa lên quan tài và rồi quan tài được hạ xuống huyệt; sau bữa ăn của các thành viên trong gia đình và bạn bè thân thuộc; sau khi… Cuối cùng, chúng ta bỏ đi những quần áo của người quá cố. Chúng ta quyết định xem những gì thuộc sở hữu của người quá cố nên được giữ lại, và những gì cần chia sẻ cho những người trong gia đình hoặc bạn bè thân thuộc của người quá cố.

Thời gian trôi qua, hiếm khi chúng ta nhìn đến những tấm ảnh của họ trong quyển album cũ, hay bắt gặp nụ cười của họ trong khung hình trên tủ thờ. Chúng ta nỗ lực để tiếp tục sống với những người đang còn sống và chăm sóc sự sống. Không ai trong chúng ta mong gặp lại cái chết - không phải bên phía này của ngôi mộ.

Bài Tin Mừng hôm nay không thấy ghi chép gì về thực tế của cái chết. Maria Mađalêna là một bằng chứng về thái độ đối với cái chết và nỗi đau kéo theo. Cô vẫn còn rất gần với cái chết thảm thương của Đức Giêsu. Cô đi đến mồ “khi trời còn tối”. Quả là còn quá sớm để có thể nắm được vấn đề và tiếp tục sống.

Maria chỉ muốn ở gần Đức Giêsu, Đấng cô yêu mến, bao nhiêu có thể. Ngôi mồ là nơi cuối cùng cô nhìn thấy Người và vì thế cũng là nơi cô muốn tới. Rồi cô sẽ quen với những gì còn lại của đời mình - ở phía sau Đức Giêsu. Dĩ nhiên, điều này hoàn toàn khác biệt, vì Đức Giêsu đã biến đổi và trở thành trung tâm của đời cô. Nhưng sau cái chết, chúng ta có thể làm tốt nhất những gì mình có thể. Khi Maria đến bên ngôi mộ và thấy ngôi mộ trống không, cô kết luận chắc chắn rằng “người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu”.

Bài Tin Mừng hôm nay chỉ là một nửa của câu chuyện. Sau này Maria sẽ trở lại, gặp Đức Giêsu, nghĩ Người là bác làm vườn và rồi sau đó nhận ra Người là Chúa Phục Sinh khi Người gọi đích danh cô. Chẳng lẽ quý vị không muốn phần còn lại của câu chuyện được gộp luôn vào trong phụng vụ hôm nay sao? Nếu muốn một kết cục rõ ràng cho những câu chuyện mầu nhiệm, chúng ta sẽ không thể chịu nổi và không thỏa mãn chỉ với câu chuyện bỏ lửng như ta có hôm nay.

Hãy đón nhận điều đó, những gì cuộc sống hiện nay mang lại cho chúng ta thường chưa hoàn tất và chỉ phảng phất một nửa câu chuyện thôi - ngôi mộ trống và sự bối rối. Nhưng rồi “người được Đức Giêsu yêu” đến và nhìn vào trong mộ, thấy những vật để lại nơi đã từng có một người chết, nhưng “ông thấy và đã tin” - dù chưa hiểu trọn vẹn những lời ám chỉ của Sách Thánh về việc “Người phải trỗi dậy từ cõi chết”.

Tất nhiên Người phải trỗi dậy từ cõi chết, nếu không thì hôm nay chúng ta chỉ có thể tưởng nhớ về cái chết của người thầy Giêsu vĩ đại. Người phải trỗi dậy từ cõi chết nên chúng ta không chỉ tôn vinh thầy Giêsu nhưng còn thờ lạy Đức Giêsu là Chúa của chúng ta. Việc Người trỗi dậy từ cõi chết khiến cho tất cả mọi sự trở nên khác đối với chúng ta là những người tin. “Hãy chứng minh xem!” những kẻ chống đối thách thức chúng ta. Chúng ta không thể chứng minh, chúng ta có ngôi mộ trống. Nhưng chúng ta cũng là những người “được Đức Giêsu yêu” và chúng ta đã được cho nhìn thấy. Trong Tin Mừng Gioan, nhận ra được dấu chỉ chính là nhìn bằng con mắt đức tin. Chúng ta có ngôi mộ trống và chúng ta vẫn tin Người đã sống lại - cùng với người môn đệ được yêu, chúng ta “thấy và tin”.

Điều gì khiến cho môn đệ ấy tin? Có thể làm gì với những khăn liệm được gấp ngay ngắn ấy? Và nữa, ai lại có thể đánh cắp xác mà lại còn xếp những tấm vải liệm ấy? Vâng, đó chỉ là chi tiết phụ, nhưng không phải là cái khiến người ta tin vào một điều không thể xảy ra. Nếu như những tấm vải đó đủ để chứng minh thì tại sao Phêrô và Maria đã không “thấy và tin”? Tin Mừng Gioan rất giàu tính biểu tượng. Nếu vải liệm để lại, thì theo lối trình bày của Gioan, nghĩa là sự chết đã bị để lại phía sau - Đức Giêsu đã phục sinh vào trong sự sống mới. Người môn đệ được yêu đã hiểu được thông điệp ấy, ngài đã thấy và tin.

Thánh Gioan nói đến một điều là họ chưa thực sự hiểu được lời Sách Thánh rằng “Người phải trỗi dậy”. Sau này khi Đức Giêsu gặp các môn đệ trong căn phòng đóng kín trên lầu vì sợ, Người đã thổi hơi ban Thần Khí của Người cho các ông. Thánh Gioan có lẽ đang hướng cộng đoàn của mình quay lại với sách thánh, nơi đó các tín hữu sẽ được Thánh Thần hướng dẫn để rồi sẽ thấy và tin chắc chắn hơn vào Đức Kitô phục sinh. Người đã thổi Thần Khí của Người trên chúng ta, khởi đầu lúc ta nhận phép rửa và sau đó hướng chúng ta về với Sách Thánh để giúp chúng ta tin tưởng vào Chúa Phục Sinh.

Nhưng vẫn có môn đệ khác, “người được Đức Giêsu yêu”. Ông tựa đầu vào ngực Đức Giêsu trong bữa tiệc ly, ông đi vào trong sân của vị thượng tế sau khi Đức Giêsu bị bắt, và còn dẫn Phêrô vào bên trong. Người môn đệ ấy cùng với Thân Mẫu của Đức Giêsu đứng dưới chân thập giá và Đức Giêsu đã trao phó Thân Mẫu của Người cho ông. Quả là những cử chỉ đáng yêu và tin tưởng giữa hai phía! Từ tình yêu của người môn đệ dành cho Đức Giêsu, đức tin của người môn đệ ấy đơm hoa kết trái và kết quả là chúng ta, những người dù chưa thấy, được vững mạnh trong đức tin. Người môn đệ được yêu giúp chúng ta tin rằng chúng ta cũng được Đức Giêsu yêu mến.

Hồi nhỏ, khi chơi bóng trên đường phố, chúng ta hay đổi bên để bắt đầu trận đấu mới. Đôi khi tỷ số quá nghiêng về một bên nên có người đề nghị “Hay mình chơi lại từ đầu!” Chúng ta lại đổi bên và bắt đầu chơi ván mới. Có người sẽ hô lớn: “Bàn mới nhé!” Những người bên đội thua sẽ gạt ý nghĩ về bàn thua vừa rồi qua một bên và có một cơ hội mới để lật lại thế cờ.

Cứ cho đó là một ví dụ đơn giản - một bàn chơi và sự phục sinh - nhưng việc Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết không chỉ như phép lạ của việc hồi sinh. Ladarô đã được làm cho sống lại, nhưng ông rồi cũng lại chết. Đức Giêsu đã trỗi dậy từ cõi chết và không bao giờ chết nữa. Sự phục sinh của Người mang lại một thời đại mới. Giờ đây mọi sự đều có thể. Chúng ta thua một ván chơi, nhưng “đây hoàn toàn là một ván mới!” (Nếu thảy viên súc sắc, chúng ta có thể nói phần thắng thế nghiêng về chúng ta).

Quá khứ bị bỏ lại phía sau. Chúng ta đã thua một trận đấu, nhưng Thiên Chúa đã kéo thế trận và chúng ta đang nghiêng về phe thắng. Giờ đây tất cả đều có thể đối với chúng ta, vì chúng ta được hứa là sẽ được chia sẻ sự phục sinh của Người. Trong ánh sáng của sự phục sinh được hứa ban, chúng ta có thể gạt qua một bên những thất bại của quá khứ và thay đổi lối suy nghĩ cũng như cách hành xử về phía chúng ta và tha nhân. Trận đấu vẫn chưa kết thúc, nhưng chúng ta, những môn đệ được yêu, đã thấy và đã tin, “Đó là một ván mới!” và chúng ta đã thắng.

Có bao nhiêu người bên phía thắng? Cuộc đàm thoại giữa thánh Phêrô và ông Cornêliô trong bài đọc thứ nhất cho thấy điều đó. Trong con mắt của người Do Thái, dân ngoại là kẻ vô đạo và thua thiệt trước mặt Đức Chúa. Nhưng việc thánh Phêrô nói với ông Cornêliô người Rôma chẳng có sự trùng hợp ngẫu nhiên nào. Thánh Phêrô thấy được điều Thiên Chúa đã muốn là ơn cứu độ bao gồm cả cho dân ngoại. Ông Cornêliô cũng có ước mơ và lời này đã hướng dẫn ông tìm kiếm sứ điệp cứu độ (10,1-8).

Thiên Chúa đã hành động mạnh mẽ vì gia đình nhân loại và đã quy tụ tất cả trong hành vi cứu độ của Đức Giêsu. Như thánh Phêrô nói với ông Cornêliô: “Phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội”. Hay, trích lại lời có tính ngôn sứ gần đây, như anh Tony, bạn thân hồi nhỏ của tôi nói rằng “Đây là một ván hoàn toàn mới!”

Lm. Jude Siciliano, OP
Chuyển ngữ: AE. HV. Đaminh Gò Vấp

_______________________________________________________________________________


THỨ BẢY – VỌNG PHỤC SINH


ÁNH SÁNG CHÚA KITÔ


(St 1:1-22; St 22:1-8; Xh 14:15–15:1; Is 54:5-14; Is 55:1-11; Br 3:9-15; Ed 36:16-17a,18-28; Rm 6:3-11; Máccô 16:1-7)


Độc giả của Tin Mừng Máccô hẳn sẽ nhận ra danh tính của những người phụ nữ trong trình thuật Phục Sinh. Đó là “bà Maria Mađalêna, bà Maria mẹ ông Giacôbê và Salômê”. Trước đây, thánh Máccô đã cho biết các bà đứng xa xa dõi theo cái chết của Đức Giêsu (15, 40), và đã chứng kiến nơi đặt thi hài của Người (15, 47).

Trong cuộc khổ hình của Đức Giêsu, Thánh Máccô nói rằng từ trưa mãi đến ba giờ chiều, khi Người chịu chết, “bóng tối bao trùm khắp mặt đất” (15, 33). Các phụ nữ đi ra mộ lúc trời vừa tảng sáng. Chúng ta biết rằng các tác giả Tin Mừng không lưu tâm nhiều đến ngày giờ chính xác. Thời gian trong ngày, “khi mặt trời hé mọc”, hàm ý rằng những người phụ nữ này sắp được trải nghiệm một điều gì mới, điều mà chắc hẳn các bà chưa bao giờ nghĩ tưởng đến. Đó là thời khắc bắt đầu một ngày mới. Nếu như trước đây, bóng tối bao trùm nhân loại, thì giờ đây bóng tối ấy đã bị xuyên thủng bởi một thứ ánh sáng mà chỉ có thể xuất phát từ Thiên Chúa. Cũng hãy nhớ rằng trong đêm tối, Đức Giêsu đã kêu lên trong cơn hấp hối khi Người hỏi Chúa Cha tại sao lại bỏ rơi Người. Ánh sáng cho thấy rằng Thiên Chúa đã bước vào câu chuyện đó và Người đã vượt qua bóng tối.

Các phụ nữ có lẽ đã khởi hành lúc trời còn tối. Chúng ta không phải là những người xa lạ đối với cuộc hành trình của các bà, bởi vì ai trong chúng ta không từng bước đi trong đêm tối? Không lần này thì lần khác, ai mà không cảm thấy buồn chán, đau khổ vì mất mát và sự tăm tối về những vấn nạn nan giải. Nhưng bóng tối vẫn không phải là tiếng nói cuối cùng; Thiên Chúa sẽ ngự đến trong ánh sáng, và Người sẽ đem lại cho chúng ta một sự khởi đầu mới.

Trên đường, các phụ nữ tự hỏi ai đã đẩy tảng đá nặng đó ra khỏi mộ. Đây là một biểu tượng khác về hoàn cảnh khó khăn mà mọi nỗ lực con người không thể giải quyết được. Họ không thể đẩy tảng đá ra, nhưng Thiên Chúa thì làm được mọi sự. Hãy chú ý rằng những phụ nữ “nhìn lên” và thấy tảng đá đã được đẩy ra khỏi mộ. Thánh Máccô ngụ ý rằng đây không thuần là một hành động thể lý là ngước mắt lên. Họ sắp được “mục kích” một mặc khải về hành động của Thiên Chúa. Thật vậy, khi nhìn lên, họ thấy một sự việc đã xảy ra. Thiên Chúa đã hành động và các bà sắp được nghe tường thuật về hoạt động kỳ diệu của Thiên Chúa.

Chúng ta cũng vậy. Thiên Chúa đã làm cho Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết. Và hôm nay, trong giờ canh thức, một lần nữa qua “người thanh niên” chúng ta lại được nghe lời loan báo – lời công bố Phục Sinh về những gì Thiên Chúa và chỉ có Người mới có thể thực hiện được.

Các phụ nữ không thấy Đức Giêsu, chỉ thấy một thanh niên, “mặc áo trắng”. Ở đây trình thuật Tin Mừng không đề cập đến y phục của thi hài Giêsu đã được gấp lại. Y phục này vốn chỉ dành cho người chết. Người thanh niên mặc y phục trắng biểu thị cho một cuộc sống mới. Đối với chúng ta, phải chăng có một sự nối kết với chiếc áo trắng mà chúng ta mặc trong ngày lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy?

Người thanh niên nói với chúng ta những gì Thiên Chúa đã thực hiện.Vị ấy nói với các phụ nữ: "Đừng hoảng sợ! Các bà tìm Đức Giêsu Nadarét, Đấng bị đóng đinh chứ gì! Người đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa”. Đức Giêsu Nadarét, Đấng chịu đóng đinh, là một lời tóm kết về tất cả những gì mà những quyền lực sự dữ đã gây ra cho Người. Nhưng quyền năng biến đổi của Thiên Chúa đã làm đảo ngược sự thất bại hiển nhiên của Đức Giêsu. Đây cũng là điều mà Thiên Chúa có thể làm cho các môn đệ của Đức Giêsu. Hai phụ nữ này đã theo dõi việc chôn cất và nhìn thấy nơi đặt thi hài của Người (15, 47). Bây giờ, người thanh niên trong y phục trắng bảo các bà nhìn lại. “Chỗ đã đặt Người đây này”. Các phụ nữ đã trải nghiệm cái chết và việc an táng Đức Giêsu, giờ đây Thiên Chúa đã hành động: “Người đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa.” Thiên Chúa nhận lấy trải nghiệm về sự chết của chúng ta và sẽ biến đổi nó.

Trên thập giá, Đức Giêsu nài xin: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Bây giờ câu hỏi của Đức Giêsu đã được đáp trả. Thiên Chúa không bỏ rơi Người. Qua những gian nan thử thách, Đức Giêsu đã phải đối diện với sứ vụ; Người chịu bắt bớ, bị những người thân tín nhất bỏ rơi, chịu cực hình và bị đóng đinh trên thập giá. Tuy vậy, Đức Giêsu vẫn luôn vâng phục và trung tín với Thiên Chúa. Thiên Chúa đã không bỏ rơi Người trong cơn hấp hối; và bây giờ chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã hành động nhân danh Người: “Người đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa.

Những người tôi gặp trong các giáo xứ và trong những kỳ tĩnh tâm có thể dễ dàng cho thấy những “điểm chết” mà họ trải nghiệm trong đời sống đạo: những nhà thờ trước đây đầy người, giờ đây hiếm khi được một nửa; một thế hệ những người trưởng thành không còn thực hành đức tin, các thanh thiếu niên mới lớn có các hoạt động khác làm họ phân tâm (bóng đá vào cả ngày thứ Bảy và Chúa Nhật), bê bối trong Giáo Hội làm cho những thành viên tích cực trước đây dần dần xa lánh, các nhà trường của Giáo Hội bị đóng cửa.v.v…Giáo Hội, nơi chúng ta tìm kiếm sự sống, có thể dường như đã chết một nửa và đang trên đường tiến tới mồ chôn! Chúng ta là một cộng đoàn tín hữu cần Thiên Chúa tác động và thực hiện một điều nào đó! Lạy Chúa, xin hãy đẩy tảng đá nặng này đi và hãy hành động giữa chúng con nhân danh Đức Kitô Phục Sinh!

Chuyện gì đã xảy đến cho những người đàn ông trong câu chuyện đó? Những tông đồ đã được Đức Giêsu kêu gọi lúc khởi đầu sứ vụ của Người, giờ đang ở đâu? Phải chăng họ đã không lắng nghe thấy lời Người trên đường lên Giêrusalem? Tại sao họ không nhận ra ngay ba lần Đức Giêsu tiên báo về cuộc khổ nạn và cái chết của Người. Thánh Máccô nói với chúng ta họ biến mất khỏi câu chuyện. Người thanh niên trần truồng chạy trong vườn khi Đức Giêsu bị bắt (14, 50-52) có lẽ hình ảnh ám chỉ các ông.

Giờ đây, một cộng đoàn mới sắp được hình thành. Suốt cuộc đời, Đức Giêsu đã hứa Tin Mừng sẽ được loan truyền đến tận cùng trái đất (30, 10). Nhưng các tông đồ và những môn đệ đã không hiện diện quanh ngôi mộ trống để lắng nghe người thanh niên công bố Tin Mừng lần đầu tiên. Vì vậy, người thanh niên đã ủy thác cho những phụ nữ ra đi công bố sứ điệp Tin Mừng cho các tông đồ đang buồn chán. Trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu đã hứa Người sẽ giữ gìn họ. “Nhưng sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đến Galilê trước anh em”. Giờ đây người thanh niên nói với các phụ nữ: “Người sẽ đến Galilê trước trước các bà….” Một kỷ nguyên mới được hứa ban đã bắt đầu. Thánh Máccô nói với chúng ta Đức Giêsu đã dẫn các môn đệ lên Giêrusalem, nơi của những kết thúc (10, 32). Bây giờ các môn đệ sắp đi Galilê. Nơi đây, họ sẽ được gặp Chúa Phục Sinh, được tha thứ và được phục hồi cương vị làm tông đồ.

Từ đó, nếu nhìn lại cuộc sống của chúng ta với Đức Kitô, cũng như những môn đệ xưa kia, chúng ta chắc chắn sẽ khám phá ra những giây phút thất bại để can đảm vác lấy thánh giá của Người mà phục vụ tha nhân. Chúng ta phải thừa nhận rằng ơn gọi tông đồ không luôn rực rỡ như một ngôi sao. Sau này, khi các tông đồ đồng bàn với Chúa Phục Sinh, Người khiển trách các ông đã không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người trỗi dậy(16, 14). Nhưng lời khiển trách cũng dừng ở đây. Sau đó Người sai các ông đi đến khắp thế giới để rao giảng Tin Mừng.

Cũng vậy đối với chúng ta, khởi đầu Thánh Lễ, chúng ta nhìn nhận tội lỗi và thiếu sót của mình như các tông đồ xưa. Sau đó, chúng ta nghe Tin Mừng sai các phụ nữ cũng như chúng ta ra đi loan báo Tin Mừng cho tha nhân. Các phụ nữ đã thấy mộ trống. Đức Kitô hiện diện với chúng ta và cả thế giới theo một cách thức mới. Các tông đồ được nói cho biết là hãy đến Galilê, nơi Đức Giêsu đã bắt đầu sứ vụ của Người. Những còn hơn thế nữa. Những người Galilê là những người bị gạt sang bên lề, bị những người mang “dòng máu tôn giáo tinh tuyền” ở Giêrusalem xem như là những kẻ ngoại lai. Các tông đồ sẽ tiếp tục những gì Đức Giêsu đã làm trong sứ vụ của Người, vươn đến với những ai bên lề xã hội.

Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta; Chúng ta được chịu phép rửa trong cái chết của Đức Kitô: “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người” ….” cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới”. Tin Mừng Máccô kết thúc với hình ảnh các tông đồ được sai trở lại Galilê để bắt đầu với một khởi đầu mới- “một đời sống mới”. Chúng ta có thể trở nên những chứng nhân phục sinh bằng cách đón nhận sự sống mới mà Chúa Kitô đem đến cho chúng ta, loại bỏ đi những tội lỗi và tích kỷ trước đây, đồng thời giúp đỡ tha nhân trải nghiệm sự tự do mà đức tin vào sự phục sinh đem đến.

Lm. Jude Siciliano, OP
Chuyển ngữ: AE. HV. Đaminh Gò Vấp