Bạn Đang Xem:   Suy Niệm Lời Chúa Hằng Tuần


Chúa Nhật II Mùa Chay Năm B

ngày 1 tháng 3 năm 2015


Tin Mừng Mc 9, 1-9 (Hl 2-10)


Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê, và Gioan đi riêng với Người lên núi cao, và Người biến hình trước mặt các ông, và áo Người trở nên chói lọi, trắng tinh như tuyết, không thợ giặt nào trên trần gian có thể giặt trắng đến thế. Rồi Êlia và Môsê hiện ra và đàm đạo với Chúa Giêsu. Bấy giờ Phêrô lên tiếng thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm. Chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia". Phêrô không rõ mình nói gì, vì các ông đều hoảng sợ. Lúc đó có một đám mây bao phủ các Ngài, và từ đám mây có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta rất yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người". Bỗng nhìn chung quanh, các ông không còn thấy ai khác, chỉ còn một mình Chúa Giêsu với các ông. Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu ra lệnh cho các ông đừng thuật lại cho ai những điều vừa xem thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại. Các ông tuân lời căn dặn đó, nhưng vẫn tự hỏi nhau: "Từ trong cõi chết sống lại nghĩa là gì?"

_______________________________________________________________________________


CHIA SẺ VÀ SỐNG LỜI CHÚA


Chúa Nhật II Mùa Chay - Năm B - ngày 1 tháng 3 năm 2015
(Mc 9, 1-9 (Hl 2-10) )

Chi Tiết Hay:
• Matthêu, Maccô, và Gioan đều kể việc Chúa Giêsu biến hình tương tự như nhau. "Chúa đem" các ông Phêrô, Giacôbê, và Gioan. Cả ba tác giả lại viết thêm "đi...với" Chúa. Các môn đệ đang đi trên đường với Chúa; các môn đệ luôn luôn nên "đi với" Chúa Giêsu, nhất là trên đường đi đến khổ giá.
• Câu thứ hai kể chuyện Chúa biến hình xảy ra "sau sáu ngày". Maccô thường không nhắc đến thời gian rõ ràng như trên. Đây có thể nói đến một sự tạo thành chưa hoàn tất, đang trông chờ "ngày thứ bảy". Hay có thể nói đến thời gian cần thiết để thanh tẩy trước khi vào Nước Trời (Xuất Hành 24:16).
• (c.3) Áo Chúa trở nên sáng chói và trắng tinh. Sách trích tiếng Hy lạp gọi áo này là "trắng như không một loại thuốc tẩy nào trên trần gian có thể mạnh đủ để làm như thế". Nói cách khác, chỉ có Nước Trời mới có thể mang lại vinh quang đó.
• Trong đoạn thánh kinh này, các môn đệ tỏ vẻ không hiểu Lời Chúa. Ông Phêrô không biết mình nói gì (c.6), và các ông cãi nhau không biết "từ trong kẻ chết sống lại " nghĩa là gì.

Một Điểm Chính:
Trên đường đi đến Giêrusalem, là nơi Chúa Giêsu sẽ bị đóng đinh, Chúa bày tỏ Vinh Quang của Người cho các môn đệ. Sự kiện biến hình của Chúa Giêsu tiên đoán sự sống lại của Người. Cũng như thế, đối với những người theo Chúa, "nếu chúng ta đã chết với Chúa Kitô, thì chúng ta tin chắc rằng chúng ta cũng sẽ được sống với Chúa Kitô"(Romans 6:8).

Suy Niệm:
1. Trên đường đời, tôi có để Chúa đi với tôi? Tôi có để Lời Chúa dẫn dắt tôi, như lời Chúa Cha đã phán: "Hãy nghe Lời Người".
2. Trong lúc gặp khó khăn, tôi đã đặt hy vọng vào đâu để giúp tôi vác thánh giá của mình? Thánh I-Nhã khuyên rằng, khi tâm hồn được Chúa an ủi, cho bình an, thì hãy dùng chính lúc đó để nhận định hướng đi của mình. Còn khi tâm hồn đang ở trong tăm tối của đau khổ, thì đừng nên thay đổi hướng đi, mà hãy nhớ lại những giây phút được Chúa an ủi, để làm sức giúp ta tiếp tục tiến tới.

_______________________________________________________________________________


CUỘC LỮ HÀNH ĐỨC TIN


(Sáng thế 22:1-2, 9a, 10-13, 15-18; Tv 116; Rmr 8:31b-34; Máccô 9:2-10)


Tôi có thể vận dụng một số điểm trong bài đọc một hôm nay. Tôi nhận ra rằng ông Ápraham sẽ vượt qua cơn thử thách Thiên Chúa đã bắt ông trải qua và sẽ nhận giao ước Chúa hứa. Tuy nhiên cuộc thử thách đòi ông Ápraham hiến tế con trai mình Isaác (“người con duy nhất ngươi yêu mến”) là một thử thách quá lớn (làm tan nát cõi lòng). Chúa đã hứa ban cho ông Ápraham và bà Sara miêu duệ khi họ về già nhiều như sao trên trời (St 15, 5). Isaác hẳn là dấu chỉ rằng Thiên Chúa sẽ thực hiện lời Người hứa. Có lẽ ông Ápraham và bà Sara có những người con khác nữa, nhưng Isaác là người con mang nơi mình tương lai và đem lại niềm hy vọng cho hai ông bà.

Nhưng giờ đây Thiên Chúa đòi ông Ápraham hiến tế Isaác như phép thử đức tin. Phải chăng đây là một Thiên Chúa hay lừa gạt, hứa rồi lại thử xem mức độ trung tín của con người như thế nào? Thế còn các bậc cha mẹ trong cộng đoàn khi nghe câu chuyện một đứa trẻ sắp bị giết thì sao? Trình thuật này sẽ khiến họ đứng ngồi không yên. Trong lối nghĩ ngày nay chúng ta tự hỏi những tổn thương nào về cảm xúc và tâm lý mà Isaác phải gánh chịu cho đến cuối đời. Như tôi đã nói, tôi có thể sử dụng bài đọc này. Liệu có thể đổi bài đọc khác được không? Giảng thế nào đây? Chắc hẳn đây là một trong những bản văn gây kinh hãi nhất trong Kinh Thánh. Hoạ may, người nghe cũng sẽ chỉ nhún vai tỏ ra không mấy quan tâm khi nghe đoạn trích này. Hay, nhìn chung trình thuật này là một trong những bản văn làm cho người đọc khó tiếp cận Kinh Thánh.

Các tôn giáo khác thời ấy thực hành sát tế con người. Có lẽ ông Ápraham đoán chừng Thiên Chúa cũng đòi buộc ông một thứ lễ vật tương tự. Ngay khi ông sắp sửa thực hiện những gì người khác thường làm, có lẽ lúc ấy ông mới nhận ra rằng đây không thể là thứ mà Thiên Chúa, Đấng ban cho ông Isaác, muốn. Ông chợt nhận ra rằng Thiên Chúa của ông thì khác và Người không muốn bạo lực hay chết chóc như là một dấu chứng cho lòng trung tín của con người. Đôi lúc một khoảnh khắc ngộ ra chợt đến như hình ảnh một thiên sứ mang theo sứ điệp, “Đừng giơ tay hại đứa trẻ.” Đấy phải chăng là cách thức mà Ápbraham kể cho người khác những gì đã xảy ra? Thiên Chúa của Ápbraham là một Thiên Chúa khác hẳn và câu chuyện này đã lột tả dung mạo Thiên Chúa của tổ tiên chúng ta đã tin nhận.

Một số người diễn giải cái chết của Đức Giêsu như sự thế chỗ cho Isaác – Thiên Chúa đã muốn Con Một Người chết vì chúng ta. Tôi thấy khó mà chấp nhận được điều này. Đức Giêsu đã bị giết vì Người phải gánh chịu hệ quả của việc trung tín với Thiên Chúa và sứ mạng Người đã lãnh nhận từ Cha Người. Chúng ta không cần phải dâng con cái chúng ta làm lễ vật. Điều Thiên Chúa muốn nơi chúng ta chính là giới răn Đức Giêsu đã ban, “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi…Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22, 37-39).

Các môn đệ Đức Giêsu đã không thể hiểu cái chết của Người trên thập giá. Họ kết luận rằng Đức Giêsu đã chết cho tội lỗi của chúng ta và đây cũng chính là đức tin của chúng ta. Thế nhưng Người chết không phải qua bàn tay Thiên Chúa mà là qua quyền lực của thế gian này khi thế gian chối bỏ Tin Mừng Người rao giảng. Thiên Chúa đã đáp trả thế nào đối với tội lỗi của chúng ta? Người tỏ lòng thương xót qua Đức Giêsu. Đức Giêsu chết trên thập giá bởi vì Người đã trung thành với sứ vụ Thiên Chúa đã trao phó cho người: công bố một triều đại của công lý, sự tha thứ và tình thương. Điều này đã đặt Người vào tư thế đối chọi với những kẻ chạy theo triều đại quyền lực và thống trị của thế gian. Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá tỏ cho thấy tác hại của tội lỗi và hệ quả của nó ra sao. Đức Giêsu, Đấng đã mặc lấy xác phàm để tỏ cho ta thấy kế hoạch của Thiên Chúa là con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, giống như Thiên Chúa nghĩa là gì, Người đã bị giết chết vì sự ghen ghét, sợ hãi, tư lợi và hiểu lầm.

Thiên Chúa đã làm cho Con Yêu Dấu của người trỗi dậy từ cõi chết và vượt qua tội lỗi để tỏ cho ta thấy quyền năng của tình thương và tha thứ vượt trên sự ghen ghét. Có nhiều ánh sáng trong trình thuật cuộc biến hình của Đức Giêsu, nơi mà Máccô đã báo trước cuộc phục sinh của Đức Kitô trong vinh quang. Trước đó, Đức Giêsu đã nói về cái chết và sự phục sinh của Người (8:31), nhưng các môn đệ đã không hiểu ý Người. Cả ba môn đệ cùng với Đức Giêsu trên núi cũng không hiểu. Ông Phêrô bày tỏ sự kinh ngạc và hoang mang, “Ông không biết phải nói gì, vì các ông kinh hoàng.”

Ông Phêrô và các môn đệ khác đã không hiểu lời tiên báo của Đức Giêsu về cuộc khổ nạn của Người; giờ đây các ông không nắm bắt được ý nghĩa của cuộc mặc khải trên đỉnh núi. Thế nhưng cả Tin Mừng bày ra trước mắt các ông: Đức Giêsu sẽ chịu đau khổ, chết và trỗi dậy từ kẻ chết. Các môn đệ, giống như chúng ta, sẽ trải nghiệm mất mát và cái chết. Các ông và cả chúng ta nữa cần phải sống trong niềm hy vọng rằng cái chết không có tiếng nói chung cuộc – mà chỉ có sự phục sinh mà thôi. Đang khi xuống núi Đức Giêsu bảo các ông phải chờ trước khi các ông nói cho những người khác biết. Các ông hẳn phải trải nghiệm toàn bộ câu chuyện – Cuộc thương khó, cái chết và sự phục sinh của Người.

Núi theo truyền thống là nơi để ẩn mình và gặp gỡ Thiên Chúa. Ông Môsê và ông Êlia không xa lạ với các cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trên núi. Các ông đã diện kiến Thiên Chúa trên núi, nhưng phải vật lộn để thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa khi trở lại với dân chúng bên dưới. Ông Môsê, người ban lề luật và ông Êlia, vị ngôn sứ, biểu tượng cho một truyền thống tôn giáo phong phú của người Do Thái. Qua các ông, truyền thống ấy đối thoại với Đức Giêsu. Khi ông Môsê và ông Êlia rời khỏi thì cũng chính lúc ấy vinh quang sáng láng của Đức Giêsu cũng biến mất. Chỉ còn một mình Đức Giêsu – Liệu các môn đệ và chúng ta còn có thể tập trung vào Đức Giêsu ngay khi cảnh tượng vinh quang tan biến, không còn được an ủi, mọi thứ không diễn tiến tốt đẹp và không cảm thấy yên vui trong đời sống đức tin của chúng ta nữa không? Liệu chúng ta còn có thể tiếp tục trung tín và vâng phục Đức Kitô khi mà ánh hào quang bên ngoài đã lịm đi và chúng ta được mời gọi để theo Đức Kitô ngay cả khi trong lòng còn đó những nghi nan và bóng tối?

Trong tích tắc ba môn đệ cảm nghiệm được Đức Kitô nên một với Thiên Chúa. Khi y phục rực rỡ bên ngoài của Người trở lại bình thường, Người vẫn là Người như trước đây. Ta không tìm thấy Chúa trên một ngọn núi xa xôi nào đó hay một đền thờ hẻo lánh nhưng Chúa đang bước đi và làm việc giữa chúng ta. Mắt chúng ta có nhìn ra Người hay không? Đối với những ai có ánh sáng đức tin thì Đức Kitô phục sinh và đang sống với chúng ta giữa dòng đời – trong Giáo Hội, nơi những người thân cận và những người nghèo khó. Nếu chúng ta nghĩ rằng trải nghiệm tôn giáo chỉ thấy nơi những gì làm cho cảm xúc ta phấn chấn và làm say mê giác quan, chúng ta sẽ thất vọng.

Tiếng nói vọng ra trong đám mây xác nhận Đức Giêsu như “Con Ta yêu dấu.” Chúng ta nghe thấy tiếng vọng lại của bài đọc một ở đây. Lễ vật nào ba môn đệ cần có để làm hài lòng Thiên Chúa của Môsê, Êlia và Đức Giêsu? Dĩ nhiên không phải là một trong các con cái của các ông. Thay vào đó, Thiên Chúa đấng ngỏ lời với các môn đệ trên núi hướng các ông đến Đức Giêsu và dạy bảo các ông và cả chúng ta, “Hãy vâng nghe lời Người.”

Có nhiều phương thế để lắng nghe Đức Giêsu qua Kinh Thánh, giảng thuyết, cầu nguyện và người thân cận. Thế nhưng trong bối cảnh này, các ông phải lắng nghe những gì Đức Giêsu bảo trên đường xuống núi và đón nhận những gì Người nói về “trỗi dậy từ cõi chết.” Đức Giêsu đã tỏ cho biết cái chết sắp đến của Người; các ông cũng phải lắng nghe lời Người về cuộc phục sinh. Niềm hy vọng đặt nơi sự phục sinh sẽ làm cho các ông và chúng ta trở nên mạnh mẽ trong lúc mất mát, đau khổ, thất bại và vô vọng.

Lm. Jude Siciliano, OP
Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Gò Vấp

_______________________________________________________________________________


HÃY VÂNG NGHE LỜI NGƯỜI


(Sáng thế 22:1-2, 9a, 10-13, 15-18; Tv 116; Rmr 8:31b-34; Máccô 9:2-10)


Có lần tôi đến thăm một tù nhân mang án tử hình, tám năm sau chuyến viếng thăm đó, anh trở thành một người bạn của tôi. Anh ta là một người Công giáo và siêng năng tham dự Thánh lễ hằng tuần tại một nhà Nguyện nhỏ trong tù. Anh nói rằng mình có một vài thắc mắc về những thói quen trong mùa chay đó là: tôi không thể hiểu vì sao chúng ta lại ăn chay. Anh cho rằng “Thực phẩm là cái tốt lành, là quà tặng từ Thiên Chúa. Nhưng tại sao chúng ta lại ăn chay và hãm mình ép xác?”

Thức ăn ở nhà tù thì thật khủng khiếp, không thể ăn được, anh bạn tôi họa hiếm lắm mới có được bữa cơm vừa ý. Khó khăn lắm mới đọc được kinh tạ ơn vì thức ăn được dọn ra trong bát đĩa sứt mẻ; còn thức ăn, theo lời mô tả của bạn bè tôi, thì thường xuyên có mùi ôi, hoặc bữa nào ngon lắm không bị nặng mùi, nhạt nhẽo. Một người tù, hay đúng hơn là người cha như anh đã chật vật lắm mới nuôi đủ gia đình, đương nhiên những người trong gia đình này không thể mời gọi tinh thần chay tịnh trong Mùa Chay được. Chúng ta cũng vậy. Và ăn chay không chỉ đơn thuần là ăn kiêng để giảm vài cân!

Nhưng, nếu chúng ta lựa chọn ăn chay trong mùa Chay này, thì đó là cách giúp tập trung sự chú ý của mình trong việc đáp trả mỗi ngày lời mời gọi của Tin Mừng hôm nay từ đám mây rằng, “Đây là con ta yêu dấu. Hãy vâng nghe lời Người.” Nếu bụng chúng ta thấy đói thì chúng ta mới cảm nhận được những người bạn đặc biệt của Đức Giêsu, họ là những người nghèo trên thế gian này và vất vả tìm kiếm cái ăn. Cái đói thể lý của chúng ta cũng sẽ làm cho chúng ta ý thức về sự thiếu thốn và khao khát Thiên Chúa. Theo cách suy nghĩ này, cái đói thể lý và cái đói tinh thần nó dễ dàng liên hệ với nhau. Vì vậy, khi ý thức được mình khao khát Thiên Chúa, thì vấn đề đặt ra là, “Chúng ta sẽ làm gì để thỏa lòng khao khát đó?” Tin Mừng chỉ ta tìm đến Đức Giêsu và hướng dẫn ta “Hãy vâng nghe lời Người.”

Các môn đệ xuống núi rồi băn khoăn về những gì đã nghe được và họ tranh luận với nhau dọc đường xem “từ cõi chết sống lại nghĩa là gì.” Họ đã đi nhiều nơi với Đức Giêsu; khi thì lắng nghe lời giảng dạy của Người; khi thì chứng kiến Người trải qua cuộc khổ nạn và chịu chết; khi thì được biến đổi nhờ sự phục sinh. Các môn đệ bắt đầu biến đổi đời mình qua tiến trình lắng nghe. Thoạt đầu, họ không tiếp nhận ngay, nhưng Đức Giêsu không bỏ rơi họ và cuối cùng, họ sẽ hiểu được việc trở thành môn đệ của Đức Giêsu nghĩa là gì. Vì thế, họ sẽ là những người chịu biến đổi; họ sẽ được thay đổi và bắt đầu vâng nghe những gì Đức Giêsu đã truyền dạy cho họ - họ sẽ vác lấy thập giá và bước theo Người.

Tin Mừng hôm nay trình bày một bản tóm tắt về đời sống của người Kitô hữu. Trải nghiệm ở núi là những gì mà chúng ta đang làm hôm khi họp nhau để thờ phượng và nuôi dưỡng đời sống đức tin. Trong đó, thung lũng biểu tượng cho nơi mà chúng ta đi đến sau thánh lễ này để sống ơn gọi làm Kitô hữu của mình. Thung lũng là nơi thánh thiêng, nơi đó chúng ta vác thập giá để theo Đức Giêsu trong công việc phục vụ tha nhân.

Điều chẳng phải là cách nhiều người trong chúng ta quan niệm về sự thánh thiện thế nào, với bao điều hằng ngày chất vấn chúng ta sao? Nuôi con? Đến cơ quan hay xí nghiệp? Tìm việc làm? Ngồi vào máy tính? Giải quyết việc thế chấp?… Vâng, có lẽ mùa Chay này sẽ giúp chúng ta cúi xuống nhìn ra bên dưới của bề mặt cuộc sống hằng ngày nơi đó sự hiện diện của Thiên Chúa đang tỏ lộ ra cho chúng ta – như sự diện mạo của Thiên Chúa được tỏ lộ trên núi khi các môn đệ nhìn thoáng qua vinh quang của Người đằng sau việc đồng hành với Đức Giêsu.

Hôm nay chúng ta không đưa ra một danh sách về những gì cần “làm hay không làm.” Nhưng có lẽ chúng ta cũng cần một danh sách như thế để chúng ta biết chính xác người môn đệ đối với chúng ta có ý nghĩa gì. Thay vào đó, Tin Mừng nói với chúng ta, “Hãy vâng nghe lời Người.” Lắng nghe là một trong những món quà quí giá nhất mà ta có thể trao tặng cho bất cứ ai. Xã hội chúng ta đầy dẫy sự ồn ào và huyên náo, bao quanh chúng ta là những bản tin tức và thường xuyên xảy ra những cuộc trao đổi vô vị trên Twitter, chẳng hạn như “Một lát Pizza cho buổi ăn trưa.” Có gì đó chúng ta có thể thực hành cho mùa Chay này: hãy trở nên người lắng nghe kiên nhẫn hơn đối với gia đình và bạn bè. Họ thực sự đang nói gì với chúng ta? Liệu chúng ta có lắng nghe họ không?

Chúng ta cũng cố lắng nghe thế giới rộng lớn hơn xung quanh chúng ta. Thế giới đó với những diễn đàn công cộng và danh tiếng nơi công chúng thường xuất hiện ở những trang đầu, và được nhắc đến trong các bản tin và trên các trang blog. Chúng được nghe thấy. Nhưng tiếng nói của của những ai không bao giờ được lắng nghe? Ai lên tiếng cho các nạn nhân? Ai lên tiếng cho những người nghèo? Tìm đâu tiếng nói thay cho môi trường bị suy thoái của chúng ta? Làm sao và ở đâu chúng ta có thể nghe được tiếng Chúa nói thay cho họ?

Điều này quả thật là khó có thể thực hiện trong một thế giới bị đàn áp, liệu chúng ta có cần tạo nên một nơi và một lúc cho việc thinh lặng, cầu nguyện và suy niệm Thánh Kinh không? Liệu chúng ta có tranh thủ được những khoảng thời gian mỗi ngày để tập lắng nghe Lời Chúa tích cực hay không? Hoàn toàn có thể thực hiện được, nếu chúng ta cố gắng. Tôi có một người dì được cho là người nghiện công việc. Thú thật không còn cách nào khác để diễn tả về dì tôi. Nhưng dì luôn giữ một cuốn Tân Ước đã nhàu nát trên băng ghế phía trước của xe hơi. Khi đến bãi đậu xe tại tòa nhà cơ quan, trước khi bước ra khỏi xe, dì đọc một đoạn ngắn trong cuốn Tân Ước, rồi suy nghĩ một vài phút và sau đó đi đến văn phòng để bắt đầu một ngày làm việc dài dằng dặc. Dì là một trong những người nhân hậu nhất, không chỉ giúp đỡ bạn bè và thành viên trong gia đình khi họ thiếu thốn, mà cả những người xa lạ. Chúng tôi khám phá nhiều về lòng rộng lượng của dì từ những người xa lạ đến dự canh thức dì. Tôi nghĩ dì đã “lắng nghe họ” và đã trở thành người môn đệ của Đức Giêsu qua những gì mà dì lắng nghe trong lời Người từ cuốn Tân Ước nhàu nát đặt trong ghế xe hơi.

Bài đọc một nói về Abraham, trích sách Sáng Thế, được xem như gương mẫu về niềm tin của tổ phụ vào Thiên Chúa. Thiên Chúa đã hứa với ông và Sarah rằng họ sẽ có con cháu đông như sao trên trời. Nhưng Thiên Chúa lại yêu cầu Abraham hiến tế Isaac, người con của lời hứa. Đối với những Kitô hữu, sự sẵn lòng hiến tế Isaac của Abraham là hình ảnh báo trước về việc hiến tế của Đức Giêsu.

Nhưng xem này, đó không phải là những gì mà cộng đoàn sẽ nghe. Họ sẽ nghe rằng Thiên Chúa đang yêu cầu một người cha giết con trai mình. Điều này liệu có ích gì khi giới thiệu bài đọc với một hoàn cảnh nào đó? Các nhà chú giải Thánh Kinh giải thích rằng câu chuyện này như một cách thức để hủy bỏ lối thực hành trong các văn hóa cổ xưa về việc hiến tế con người. Trẻ con được hiến tế cho các vị thần trong những lúc khó khăn hoặc trước một trận đánh lớn. Cách thực hành này đã ảnh hưởng đến niềm tin độc thần của người Dothái, và vì thế câu chuyện Abraham-Isaac được xem như là một sự bài trừ cách thực hành hiến tế đó. Dân Israel biết rằng họ không phải làm dịu lòng Thiên Chúa để thuyết phục Người thuận theo họ. Thiên Chúa luôn luôn ở với họ và không bao giờ có thể bị lôi kéo.

Thêm vào đó, những nhà chú giải Dothái truyền thống về đoạn văn này đã đưa ra lập trường rằng Thiên Chúa biết rõ lòng trung thành của Abraham và vì thế, Thiên Chúa đã cho ông ta một cơ hội để diễn tả lòng trung thành đó. Sau này, trong lịch sử dân Dothái, họ xem việc “trói Isaac” như một hình ảnh ẩn dụ về việc họ phải trải qua cuộc bách hại, và xem đau khổ như là kết quả lòng trung thành của họ đối với Thiên Chúa trong Lề Luật.

Lm. Jude Siciliano, OP
Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Gò Vấp