Lịch Sử Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang, Việt Nam (tiếp theo)

Nguồn: Từ Website Tổng Giáo Phận Huế - Tg: Trần Quang Chu

MỤC LỤC

PHẦN I: Sự Tích Đức Mẹ La Vang
PHẦN II: Địa Chí La Vang
PHẦN III: Lịch Sử Đại Hội Hành Hương Đức Mẹ La Vang
PHẦN IV: Công Cuộc Kiến Thiết Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang
PHẦN V: Nhân Vật và Sự Kiện
PHẦN VI: Hai Vị Giáo Hoàng Của Đức Mẹ La Vang
PHẦN VII: Ơn Lạ Đức Mẹ La Vang
PHẦN VIII: Thi Ca, Vãn La Vang

__________________________________________________________

PHẦN VIII:THI CA, VÃN LA VANG

 

I. THI CA LA VANG

1. THƠ JMT (LINH MỤC JOSEPH MARIA NGUYỄN VĂN THÍCH)

LỜI CẦU CÙNG ĐỨC MẸ LA VANG[1]

Lạy ơn Đức Mẹ La Vang
Xin nghe con mọn thở than mấy lời:

Mẹ là Mẹ Chúa Ngôi Hai
Muôn vàn thần thánh không ai sánh cùng.

Mẹ tuy hiển hách ngàn trùng
Nhưng mà Mẹ cũng đầy lòng thương thay.

Mẹ đã chọn lấy chốn nầy
Gót thiêng bước đến còn đầy ơn thiêng.

Người bệnh tật, kẻ ưu phiền
Cầu liền đặng đã, xin liền đặng vui.

Dập dìu kẻ tới người lui
Trong Nam ngoài Bắc mọi người giáo lương

Ơn phần xác, ơn phần hồn
Nào ai cầu Mẹ mà không đắc lời.

Lạy Mẹ là Mẹ Chúa Trời
Mà Mẹ lại cũng Mẹ loài người ta.

Cúi xin xuống phước hà sa
Đoái thương con cái thiết tha khẩn cầu

Này con quỳ gối cúi đầu
Trước bàn thờ Mẹ xiết bao ước nguyền

Xin cho con đặng bình yên
Giữ gìn ơn thánh vẹn tuyền thủy chung.

Cho con ghét tội hết lòng
Mến đàng phước đức ra công sửa mình

Cho con một dạ đinh ninh
Kính thờ một Chúa hết tình thảo ngay.

 

Này con dâng tấm lòng này
Một niềm mến Mẹ từ rày về sau.

Lòng con rày chỉ ước ao
Chết trong tay Mẹ phước nào lớn hơn.

Lại xin Mẹ cũng xuống ơn
Giữ gìn cha mẹ nhà con yên hàn.

Xin cho nước trị dân an
Nơi nơi nghe tiếng Evang giảng truyền.

Những người sầu não tật nguyền
Xin cho đều đặn bình yên xác hồn.

Muôn vàn xin nhậm lời con
Lại cho con đặng một ơn riêng nầy...

            (Xin ơn gì thì nói)

Lẽ nào ra khỏi nơi đây
Mà con lại chẳng lòng đầy cậy trông.

Con xin cảm tạ muôn trùng
Vì con biết Mẹ sẵn lòng với con.

Còn trời còn nước còn non
Con còn cầu khẩn Mẹ còn đoái thương.

Nay con từ biệt thánh đường
Thân tuy cách đó dạ thường mến đây.

Chốn nầy, ngày nầy, hội nầy
Lòng nầy ghi tạc dám phai đá vàng.

Lạy ơn Đức Mẹ La Vang
Xin nghe con mọn thở than mấy lời.

 

 

2. THƠ HOÀNG ANH MAI

 

THƯƠNG NHỚ VỀ LA VANG[2]

(Chép lại lời chị Ly Hương)

 

  • Quê em ở Quảng Trị
  • Nghèo, nhưng có La Vang
  • Nơi thời xưa cấm đạo
  • Mẹ hiện ra rõ ràng
  • Bênh vực người giáo hữu
  • Phù hộ cả dân làng.
  •  
  • Nay có đền La Vang
  • Nhà thờ thật cao sang
  • Sau lưng thì đồi núi
  • Trước rải rác xóm làng.
  •  
  • Không biết bao ơn lạ
  • Mẹ ban cho tỏ tường.
  • Không kể giáo hay lương
  • Ai xin đều được cả.
  •  
  •  
  • Cỏ cây hay gạch đá,
  • Nước giếng là thuốc tiên
  • Nhờ Mẹ rất linh thiêng
  • Chữa bệnh đều lành đã.
  •  
  • Toàn dân nước Việt Nam
  • Yêu mến Mẹ La Vang
  • Ba năm về đại hội
  • Đông vô số vô vàn.
  • ...
  • Nay em ở Quảng Nam
  • Em nhớ mãi La Vang
  • Quê xưa nghèo mong mỏi
  • Trông gặp ngày vinh sang.
  •  
  • Em nhớ những chiều mưa
  • Chị em vào đền thờ
  • Chấp tay quỳ lạy Mẹ
  • Xin thương xót tuổi thơ.
  •  
  • Cho quê hương giàu có
  • Cho khoai lúa tốt mau
  • Nước nhà hết giặc giã
  • Cha mẹ khỏi ốm đau.
  •  
  • Em nhớ những đêm trăng
  • Đàn trẻ chạy tung tăng
  • Chơi xung quanh đền Mẹ
  • Cười vang bóng chị Hằng.
  •  
  • Rồi em nhớ trưa nao
  • Khăn gói bước lên tàu
  • La Vang chìm khuất bóng
  • Buồn lệ thấm khăn lau.
  •  
  • Năm nay kiệu La Vang
  • Trông quê Mẹ mơ màng
  • Đi lấy chồng xa cảnh
  • Thương nhớ về La Vang.

 

3. THƠ XUÂN LY BĂNG (ĐỨC ÔNG GB. LÊ XUÂN HOA)

LA VANG THÁNH ĐỊA[3]

 

Đây La Vang thánh địa

Dừng bước lại khách ơi!

Khách có nghe tiếng gió rít chân đồi

Lời kể lể rừng hoa sim lá rụng...?

Khách có nghe nhạc thuỳ dương lồng lộng

Suối tre vàng theo gió chảy chiều mơ...?

Khách có nghe lời kinh nguyện đền thờ

Theo tháp trắng trời cao lên bát ngát...?

Khách có nghe sớm chiều chuông ca hát

Rất ngọt ngào, đưa tình Mẹ, khách ơi?

 

Có một thời,

(Chuyện gần hai thế kỷ)

Khách ơi

Dừng chân tôi kể một lời khách nghe:

 

Truyền rằng thuở ấy sơn khê
Tương tàn cốt nhục, tư bề gươm đao.

Trách ai đưa chuyện thế nào
Để ai nông nổi gây bao thương tình

Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình
Lệnh truyền “Sát Tả”, não tình dân con.

Xương trắng bãi, máu loang cồn,
Xóm làng tan nát, thánh đường tiêu ma.

Đau lòng trẻ, khổ thân già,
Eo óc tiếng gà dắt díu nhau đi.

Con đường vô định biết chi
Cây đa Bến Cộ hay khi nào về.

Nắng mưa sương gió dãi dề
Ôm cây thánh giá lòng tê tái lòng...

 

Bỗng một hôm chiều rừng,

Âm u ngàn gió lá!

Có đoàn người là lạ

Thiểu não kéo về đây...

Trên trời có một đám mây,

Đồi hoa sim tím sương bay ít nhiều.

 

 

 

 

 

Rồi từ đó chiều chiều

Rồi từ đó đêm đêm

Rừng vang lời kinh nguyện

Nhạc lên rung khí quyển

Suối lệ chảy chan hòa

Náo động cả gần xa

La vang cùng sông núi.

Một đêm kia khách hỡi!

Có Bà áo trắng hiển linh
Huy hoàng bên một cổ đình cành đa.

Tay tiên ẵm Chúa nõn nà,
Hào quang thiên sứ giải ra một vùng.

Miệng Bà ngọt ánh trăng trong:
“Con ơi hãy cứ vững lòng cậy tin!

Gian truân chịu, dạ bằng yên,
Lời xin Mẹ đã một niềm ghi sâu

Từ nay ai đến kêu cầu
Nơi này Mẹ sẽ giải mau ưu phiền.

Tay phàm bẻ lá vườn thiêng,
Dành khi lam chướng thấy quyền diệu linh”.

Dứt lời Bà nhẹ biến hình
Bâng khuâng gió tiễn hương trinh về trời.

 

Rồi từ đó khách ơi!

Đoàn di cư tị nạn

Lập nương rừng đốn cây làm gỗ lán

Xây dựng lại cuộc đời.

Ơn thiêng liêng đã lành được bởi trời

Nguồn sinh lực hào hùng không xiết kể.

Non nước này là của riêng Đức Mẹ,

Danh tiếng đồn khắp sông núi gần xa.

Lộc trời xuống tựa sương sa,

Giáo lương tấp nập bao la hội về.

Rừng già chứng chuyện năm tê,

Đêm đêm trút lá nằm nghe ơn lành.

Đồi hoa sim tím trở mình

Chiều mơ lại chuyện hiển linh năm nào.

 

Khách nhìn lòng thấy nao nao

Dừng chân thánh địa bước vào cửa thiêng

Mênh mông đẹp ý siêu huyền...

 

4. THƠ KIM BÔI

 

TỨC CẢNH[4]

 

Nghìn dặm quan san viếng Mẹ hiền

Nước non tô điểm cảnh thiên nhiên.

Rừng xanh kết tán che thần tích,

Cát trắng chăng thềm vọng dấu thiêng.

Bảo tự chuông ngân chiêu đạo thánh,

Linh kỳ gió cuốn giục hồn chiên.

Thuấn nhuần hoa cỏ ơn Trinh Mẫu

Lưu giữa càn khôn tiếng diệu huyền

 

 

5. THƠ TAO QUANG

 

ƯỚC VỌNG[5]

 

Tôi muốn đến La Vang

Xem cát bụi bay vàng

Bôi hoen màu áo Mẹ

Nhuộm đỏ cánh rừng hoang.

 

Nhưng dặm đường cách trở

Tình dâng lên đầy vơi

Ánh sao huyền bỡ ngỡ

Nuốt những mảnh tim tôi.

 

Mà chiều nay nắng đổ

Gió ngàn lướt mái hiên

Mây về giăng lối ngõ

Chạnh nhớ bóng Mẹ hiền.

 

Mẹ ơi! Hoa còn nở,

Giữa lúc ánh chiều tan.

Lòng người chia muôn ngã

Với những giấc mộng tàn.

Con ước trông gặp Mẹ

Gởi những khúc triều ca.

Hận sầu vương thế hệ

Muốn yêu Mẹ thiết tha.

 

Dâng Mẹ mớ tuổi thơ

Gởi trọn mối tình xưa

Mối tình đầu thơ dại

Rung lên những tiếng tơ.

 

Tôi muốn băng ngàn dặm

Tìm đến phương trời nao

Gặp Người tôi say đắm

Đẹp hơn ánh trăng sao.

 

Chim ơi về đâu thế

Chồn chân mỏi cánh chưa?

Hãy đo đường thiên lý

Về mến Mẹ say sưa.

 

6. THƠ MAI Y THỌ

 

LẦN ĐẦU CON ĐẾN[6]

 

Con về bên Mẹ La Vang
Lung linh hoa nắng liễu ngàn thướt tha

La Vang đất Mẹ bao la
Tình thơ thắm đẵm mặn mà ý quê

La Vang Kiều Nữ - Sao Khuê!
Bước chân huyền diệu, Người về từ đâu?

Ngỡ ngàng như thể chiêm bao
Cây đa đài cổ xôn xao lá tầng.

Nhiệm tình. Hoan lạc... Châu rưng
Bên Linh nhan Mẹ ngát lừng ân thiêng.

Vạn hồn lương, giáo, không riêng
La Vang kết ước duyên thiêng đất trời.

 

Gối quỳ trầm lắng Mẹ ơi
Lần đầu con đến bên trời La Vang.

 

7. THƠ MAI THÀNH (Nữ tu Bùi Thị Như Kha)

 

ÁNH HƯƠNG DÂNG ĐỨC MẸ LA VANG[7]

 

Đã về đây, đoàn con yêu vạn quốc,

Ngập cõi bờ Thánh địa, lửa hè chang.

Ngước mắt nhìn nhan thánh Mẹ La Vang,

Kính dâng Mẹ, ngọn thủy triều hoan hỷ,

 

Một lời kinh xuyên qua hai thế kỷ,

Đang vùng lên rung động cả đất trời.

Lời kinh hòa nước mắt với nụ cười,

Những giai điệu khổ sầu cùng ân lộc,

 

Với điệu múa cung đình màu bích ngọc,

Cuộn sóng vào nước mắt ba dòng sông,

Muôn trái tim, một điệu hát vang ngân,

“Như song lộc triều nguyên ơn phước cả”

 

Dù chỉ cơm khô, với bình nước lã,

Dù giường sỏi đá, mảnh chiếu thô sơ,

“Khách sạn nghìn sao” hạnh phúc vô bờ,

Bên bóng Mẹ, ôi bình an khôn tả!

 

Đến nơi đây không tranh hùng tranh bá,

Không đua chen, đọ sức, chỉ sấp mình,

Giáo và lương cùng một dạ đinh ninh,

Càng thương nhau càng tiến gần đến Mẹ.

Dù gần, xa, hòa chung bao thế hệ,

Một điệu đàn, giáo sĩ cạnh giáo dân,

Với thanh niên, bô lão một băng tần,

Cùng trẻ thơ bên những người tận hiến.

 

Hướng về Mẹ... trái tim vô giới tuyến,

Đang ẵm ôm những đầu cúi chân quì,

Những vừng đông và mọi ánh tà huy,

Mọi giọt mồ hôi, nỗi niềm, khao khát.

 

Quyện vào nhau thành bài ca duy nhất,

Chuyển cho con, Đấng Cứu Độ Muôn Dân.

Đấng Vĩnh Hằng, Đấng Vô Thủy Vô Chung,

Yêu nhân thế với trái tim bất tử.

 

Mẹ là Đấng không bao giờ thất hứa,

Luôn trợ phù giáo hữu khắp muôn phương,

Đây đoàn con, Giáo hội với Quê Hương,

Cùng thế giới tiến vào thiên kỷ mới.

 

Mẹ La Vang! Một mùa xuân vời vợi!

 

 

 

 

8. THƠ TRĂNG THẬP TỰ (LINH MỤC VÕ TÁ KHÁNH)

 

BÊN TƯỢNG ĐÀI MẸ LA VANG[8]

 

Sáng dậy lên đường, ai gọi chuông?

Cung đàn thánh thót, nhạc thần buông.

Mẹ đưa mắt dõi theo từng bước,

Mẹ đợi chờ con cuối dặm trường.

 

Con về kính Mẹ, lễ Truyền Tin,

Thiên sứ Gabriel lặng lẽ nhìn.

Thánh địa La Vang, đường vạn dặm,

Lòng con nhớ Mẹ, nhớ như in.

Và khi rừng thẳm đón chuông chiều,

Con đã về đây với Mẹ yêu.

Muốn nói ngàn lời nhưng bỗng lặng,

Nhìn thôi đã nói biết bao nhiêu.

 

Nghe Mẹ và nghe cả dưới kia,

Rừng đêm dội lại tiếng tàu khuya.

Rừng khuya thăm thẳm, đường đêm lạnh,

Mẹ dắt đưa đi, Mẹ dẫn về.

 

9. THƠ ĐÌNH BẢNG (LÊ ĐÌNH BẢNG)

 

LA VANG MỘT NGÀY, MỘT ĐỜI[9]

Kính dâng Mẹ La Vang.
Kỷ niệm 100 năm Đại Hội lần I (1901-2001)

 

Trăm năm trước, những ai về Dinh Cát

Về Cổ Vưu, Cây Da, ghé Hội Yên

Những nhà thờ - họ đạo, xóm làng bên

Cờ xí rợp mấy vùng quê lương, giáo.

Người ở Kinh ra, cân đai, áo mão

Kẻ Đàng ngoài vô, thanh lịch, đài trang

Qua truông nhà Hồ, vượt phá Tam Giang

Chốn heo hút bỗng dập dìu phường phố.

Đợi con nước, tuần trăng, xem quỳnh nở

Tháng Tám mùa Thu, đến hẹn lại lên

Trăm nẻo về, cùng một bến đông ken

Muôn ngã rẽ chảy đầy nguồn sông Mẹ.

 

Đâu phải đợi đến bây chừ, mới kể

Chuyện binh đao dằng dặc, chả ai ngờ

Giữa thâm sơn cùng cốc ấy, ngày xưa...

Mẹ hiện đến để phò nguy cứu khổ

Bởi những phân ly, đọa đày, cơ nhỡ

Bởi những gánh gồng, tay xách, nách mang.

Mẹ bỏ trời cao

Mẹ xuống thế gian

Mẹ chọn La Vang

Làm nhà Mẹ ở

Dưới cội đa già, bản thôn, rừng rú

Mai sớm, chiều hôm

Tiếng hát, lời kinh

Một gia tài của lòng đạo, đức tin

Đã bén rễ sâu, gốc bền, từ đấy...

 

Chừ, non bạc triều dâng, sông suối chảy

Chừ, La Vang “Thành phố ngã ba đường”!

Ôi, con đường tơ lụa của hành hương

Những chuyến trở về tâm linh thiêng thánh.

Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh
Góp chuyện gần xa, thưa gửi Mẹ mình

- “Chúng con còn vượt biển, sóng lênh đênh

Ngước trông lên, Mẹ là ngôi sao sáng”!

 

Mau lên nhé, kẻo lâu ngày chầy tháng

Kẻo chậm chân, vơi cạn hết dầu đèn

Kẻo muộn màng khi chàng rể kề bên

Lại cuống quýt mà lo ra, chểnh mảng

Hôm nay, gió đã dừng, cây đã lặng

Chúng con về, góp gạo, thổi cơm chung

Líu ríu bên nhau, bếp lửa bập bùng

Nghe bốn phía ngân vang âm phế tích

Mỗi viên đá còn tươi nguyên máu thịt

Cỏ lau reo, hay hồn vía bao đời?

Mỗi thầm thì từ mạch giếng sâu khơi

Mỗi dấu vết, mỗi kinh qua lịch sử...

Mẹ vẫn đứng cùng phong rêu, quá khứ

Hai trăm năm, phơi rát mặt gió Lào

Cháy lòng con bao nỗi nhớ xôn xao

Mỗi khi đếm từng mùa đi, thay lá.

Mẹ vẫn đứng, làm cây cao bóng cả

Để nương che con cái Mẹ đi, về

Người, mỗi người thêm một chốn, đôi quê

Mẹ của trăm con lên rừng xuống biển.

 

Mẹ ơi Mẹ, đoái nghe con cầu nguyện

Chút buồn vui, u uẩn rất thật lòng

Cả đời con, những chín nhớ, mười mong

Cứ đau đáu một niềm riêng, chưa ngỏ

Được sống thác, được phù trì, nâng đỡ.

Này tràng châu, hai thế kỷ rền vang

Vui thương mừng dệt thành chuỗi La Vang

Trong gió mùa Thu, Mẹ ru con ngủ.

Đêm nay, với người thập phương, tứ xứ

Con ngây ra như đứa trẻ được quà.

Trăm năm rồi, như vừa mới hôm qua

Lại lên bến xuống thuyền, vui rộn rã.

Mẹ là Mẹ của chúng con, tất cả

MẸ LA VANG - MẸ GIÁO HỘI VIỆT NAM.

 

 

 

10. THƠ TRẦN QUANG CHU

 

GIÃ BẠN[10]

 

Thôi nhé, giờ đây tạm biệt rồi

Người thì lên ngựa, kẻ về xuôi.

Thu sang lá rụng, mưa chưa tới

Mà lệ âm thầm như muốn rơi.

 

Thôi nhé, người ơi lên Tây Nguyên

Trong gió đường xa vẳng giọng khèn.

Nhớ mãi em ơi màu thổ cẩm,

Rượu cần, chum ché, nhạc cồng chiêng...

 

Đường ra miền Bắc còn xa lắm,

Gấp chuyến xe đi, vội chuyến tàu

Mai mốt ghé qua miền giáo phận,

Nhớ thăm Phát Diệm, viếng Bùi Chu.

 

Em ạ, ngày mai tàu xuôi Nam

Giữ thơm hương vị lúa đồng bằng

Chín nhánh Cửu Long đều ra biển

Lo gì Sông Hậu nhớ Tiền Giang.

 

Ngày mai theo em về Quảng Thuận

Cũng có La Vang ở xứ người.

Thanh long trái đỏ, chùm nho tím,

Ngọt mát Thạch Hà, Hạnh Trí ơi!

 

Nha Trang biển được mùa không nhỉ?

Chim én bay xa, sông bạc đầu.

Vách núi cheo leo, người thiếu phụ,

Chờ chồng thuở trước đứng vọng phu.

Thôi nhé, người ơi về Bà Rịa,

Nông trường đất đỏ, nắng vàng hoe.

Đã tới mùa bắp non chưa nhỉ?

Tháng nào cạo mủ, tưới cà phê?

 

Em ạ, giờ đây mình chia tay

Xuôi tàu Thống Nhất tới Đồng Nai.

Em có về Phương Lâm, Định Quán,

Chờ tôi ở ngã ba Dầu Giây.

 

Xin tiễn chân người ra hải ngoại,

Trời thu nắng gắt bỗng mây giăng.

Người ơi, phương ấy giàu sang lắm,

Nhớ gì quê mẹ bữa cơm măng?

 

Thôi nhé, con chào Mẹ La Vang,

Nhét vội ba lô bó lá vằng

Kẻo lỡ mai kia trời trở gió

Lòng con thánh dược chảy tâm can.

 

Thôi nhé, giờ đây tạm biệt rồi,

Người về Gia Định ghé tôi chơi.

Hăm mốt, Phan Xích Long, Phú Nhuận

Buồn vui quê Mẹ kể liên hồi.

 

 

 

 

 

 

 

II. VÃN LA VANG

LA VANG SỰ TÍCH VÃN[10]

 

Trời sinh cái chốn lạ lùng:
Tự nhiên giữa núi nên cung Chúa Bà:
 

Truyền rằng có một cây đa,
Mọc lên giữa núi diềm dà tốt tươi
 

Ngày thì hạc phụng dạo chơi,
Đêm thì hổ báo chầu nơi linh hoàng.
 

Chốn này thanh vắng nghiêm trang,
Hai bên khe ruộng giữ làng La Vang.
 

Bên lương chức dịch nhộn nhàng,
Đắp nền thờ vọng rào hàng sơ li.
 

Rằng: nầy một chốn uy nghi,
Ngoại mình khấn vái điều gì cũng linh.
 

Dân thôn chớ khá nại tình,
Công lao khó nhọc thần linh phù trì.
 

Qua đây thì phải kiêng vì,
Chốn nầy linh ứng nhiều khi lạ lùng.
 

Dầu ai vào chốn sơn trung,
Hễ đi đến đó nguyện cùng được an.
 

Những người mót củi đốt than,
Cũng đều đến đó kêu van khẩn hoài.
 

Dân ta chứ khá công nài,
Bứt tranh đốn củi để mai làm chùa.
 

Làm rồi khi ấy đi mua,
Hương đèn lễ vật dọn chùa sửa sang.
 

Dọn ra Thần, Phật hai hàng,
Lư hương bát nước nghiêm trang đề huề.
 

Làm rồi chức việc mới về,
Nhơn dân lao khó, ê hề bấy lâu.
 

Về nhà ngủ giấc canh thâu,
Tự nhiên mộng mị chiêm bao rập ràng:
 

Trên chùa Thần Phật nhộn nhàng,
Về bắt chức dịch mấy làng xôn xao.
 

Rằng Thần rằng Phật lao đao,
Có Bà trên đạo phép cao lạ lùng.
 

Bà vào Bà đánh tứ tung,
Bao nhiêu Thần Phật đều tuôn ra ngoài.
 

Tiếng Bà thật đã linh oai,
Lư hương, bát nước, đền đài đều hư.
 

Chức làng thức dậy lao lư,
Hỏi sao coi thử cũng như một điềm.
 

Sáng mai chức việc đi liền,
Kêu nhau đến thử sự thiềng làm sao.
 

Xét coi trong việc chiêm bao,
Hoặc hư hoặc thiệt thế nào cho yên.
 

Đem nhau mới tới ngoại viên,
Thấy ngôi Thần Phật ngã nghiêng ngoài đàng.
 

Kêu nhau khi ấy rộn ràng,
Kẻ sương người vác về làng cho mau.
 

Tưởng rằng Thần Phật linh mầu,
Đem về cúng tế mấy lâu nay tròn.
 

Không hay Phật giả yêu ngôn,
Tiếc vàng quang thiếp, tiếc son, tiếc dầu
 

Linh Bà người hóa phép mầu,
Thôi, ta phải kíp chạy mau về làng.
 

Cùng nhau bàn bạc rộn ràng,
Chùa này để cúng về đàng đạo nhơn. 

Dở đi thì sợ người hờn,
Phá không dám phá thiệt hơn thể nào.
 

Tiếc công dân sự lao đao,
Ăn làm ba tháng lại hao của tiền.
 

Bây giờ Phật ở không yên,
Lo làm nơi khác tìm miền xứ Ran.
 

Sai người xuống dưới Thạch Hàn,
Tìm ông đạo cựu hỏi han một lời
 

Ông chức nghe tiếng làng mời,
Tức thì vội vã gót dời ra đi
 

Tới nơi hiệp mặt một khi,
Thuật ra tự sự vân vi cho tường.
 

Chỗ này linh ứng phi thường,
Chúng tôi xin cúng về đường đạo ông.
 

Chùa tranh một cái đã xong,
Vườn thời một bức trong vòng một nơi.

Bên ông gìn giữ cho Người,
Để lo vun quén tài bồi cây đa.
 

Chỗ này là chốn Chúa Bà,

 

Cho nên Thần Phật quỉ ma kiêng dè 

Ông chức khi ấy liền nghe
Về thưa bổn sở cũng y mấy lời.
 

Bổn sở nghe nói liền cười,
Chúa Bà hóa phép ngoại người mới tin
 

Sai người lên ở giữ gìn,
Để lo kinh nguyện dầu đèn hôm mai
 

Nay ta lo lắng thơ bài,
Phải làm mà gởi các nơi nhà dòng.
 

Cùng đều khắp các nhà chung.
Mấy đời mà có lạ lùng như ri,
 

Các người đều lãnh thơ đi,
Kẻ thời ra Nghệ, người đi Kinh thành.
 

Nghe thơ kể việc đành rành,
Thảy đều khen ngợi thánh danh Đức Bà.
 

Tiếng đồn chóng thổi gần xa,
Thông qua biển cả huống là non sông.
 

Chùa tranh mưa tạt gió lồng,
Bốn bề trống trải màn mùng cũng không.
 

Người bèn ái ngại trong lòng,
Về thưa bổn sở để hòng tính phương.
 

Đi ra gần đỗi nửa đường,
Trên chùa Bà đã khiến sương vải vào.
 

Hai người buôn bán với nhau,
Tính toán giá vải trước sau cho rồi,
 

Mua rồi sắp sửa mọi nơi,
Để trong thùng nọ ngoài thời niêm phong
 

Dặn dò mai sớm rạng đông,
Đến đây sẽ trả cho xong giá tiền.

Hai người truyện vãn hàn huyên
Vải nầy tôi sắm để riêng may màn
 

Truyện rồi từ giã lên đàng,
Sớm mai lui lại hỏi han lấy tiền.
 

Ông từ bỡ ngỡ nói liền,
Bữa qua đi khỏi vải tiền ai mua,
 

Chốn này là chốn linh chùa
Đi ra cho khỏi, bèn xua tức thì.
 

Mụ ấy mới nói một khi,
Không tin chú giở hòm nầy cho coi.
 

Giở ra thật đã hẵng lời,
Tiền đồng một bó, vải thời năm cây.
 

Tức thì lấy trả tiền ngay,
Cùng ngồi nhắc lại cho hay sự tình.
 

Chú từ nghe nói thất kinh,
Về thưa cha sở cho minh việc nầy
 

Bấy giờ cha sở mới hay
Kể trong các việc là ngày bữa qua
 

Liền lấy thơ gởi gần xa,
Đưa tin cho biết Đức Bà linh thiêng.
 

Nhận thơ liền đọc lên liền,
Kẻ nghe người đọc hiệp tình chung vui.
 

Thơ rằng: “Chúa Cả Ba Ngôi
Hộ phù giáo hữu, vài lời thông tin
 

Rằng: Đức Mẹ hiện xuống thánh đền  

Bồng Thánh tử trọng nên là trọng 

Đội mão vàng sang quá đổi sang. 

Rất oai vang chữa người bệnh hoạn 

Hóa phép lạ cứu kẻ gian nan, 

Những chúng sinh lâm nạn khổ bức, 

Đều nhờ Mẹ trăm thức nhiệm mầu 

Dẫu lương giáo khắp xứ đâu đâu, 

Đều đến đó khẩn cầu khấn vái 

Chốn Sơn Đài thế giái âu ca 

Có cây đa tươi tốt diềm dà, 

Mọc trên rú nọ hiệu là La Vang, 

Các làng phù hiệp tính toan 

Làm chùa thờ phật hỉ hoan tấm lòng 

Hay đâu sự rất đỗii lạ lùng 

Bà hóa phép, Phật cùng tan tác, 

Đi về bắt làng nước thất kinh.  

Bấy giờ mới rõ biết sự tình, 

Xin cúng lại chùa tranh một cái. 

Bức thơ nầy gởi cho ai nấy,  

Đặng thông tin việc ấy cho tường.  

Ngợi khen Thánh Mẫu Nữ Vương,  

Oai quờn phép tắc độ lường khoan nhơn”. 

 

Nay thơ  

Xem thơ mới biết nguồn cơn
Chọn nơi thanh vắng cao sơn cứu người.

Từ ấy đồn thổi khắp nơi
Bên lương bên đạo mọi người kính tin.
 

Từ quan cho đến dân tình
Không con không cháu khẩn nguyền cũng cho.
 

Thiên hạ nhiều kẻ âu lo
Dẫu đi không thấu cũng cho như lời
 

Miễn là kêu đến tên Người,
Xin Người phù hộ một nơi linh đền.
 

Dầu ai cúng bạc cúng tiền,
Gởi đem vào đó khẩn liền được an.
 

Bà nầy phép tắc khôn đang,
Chết rồi cho sống mạnh an như thường.
 

Có người thất vận lạc đường
Lâm cơn túng rối lo lường kêu xin.
 

Bà cùng dắt díu giữ gìn,
Đưa về đến chốn bình yên như lời.
 

Có người vượt biển xa vời,
Lâm cơn sóng gió mở lời kêu van
 

Bà cho gió lặng sóng tan,
Có lòng trông cậy trăm đàng được xuôi.
 

Bất kỳ bất tiện ngái ngôi
Bất câu lương giáo khẩn rồi đặng yên
 

Dầu ai bệnh hoạn tật nguyền,
Đến nơi đền ấy khẩn liền cũng cho.
 

Dầu ai miệng méo tay co
Dầu mà suyển tức hen ho lành liền.
 

Ấy là Thánh Mẫu thượng thiên.
Chọn nơi thanh vắng giữa miền La Vang.
 

Ai lâm hoạn nạn gian nan
Đem lòng tin cậy đến van cùng Bà.
 

Kẻ thì trảy lá cây da,
Kẻ thì nhổ cỏ đem ra theo mình.
 

Thuốc đâu hiệu nghiệm oai linh,
Cho bằng lá cỏ xung quanh đền Bà,
 

Bứt lâu trụi lá cây đa,
Cây lâu cũng rụi, nay đà mất tang.
 

Miễn trong vườn thánh La Vang
Sim, me, tràm, chủi, lá vằng cũng hay
 

Dầu lá nọ, dẫu cỏ nầy,
Đem về sắc uống, kíp chầy bệnh thuyên.
 

Giáo lương năng đến khẩn nguyền
Thấy nhà tranh tạm không yên tấm lòng.
 

Giáo nhơn Dinh Cát giúp công
Tiền dâng bạc cúng cũng không thiếu gì.
 

Phen nầy chẳng dám diên trì,
Quyết làm đền ngói thay vì chùa tranh.
 

Đã lâu phép lạ vang danh,
Bề trên coi bộ chưa đành vội tin.
 

Truyền rằng: Đức Mẹ hiện hình
Tay bồng Ấu Chúa oai linh vô cùng.
 

Cứu người vô chốn sơn trung
Khỏi lâm vuốt hổ, miệng hùm, răng beo
 

Truyện nầy hư thiệt khó theo,
Làm nhà ở đó cheo leo trăm bề.
 

Ra vào hiểm hóc gớm ghê,
Nhà thờ làm đó nào hề ai vô.
 

Trước khi khỉ việc trình đồ
Để ta bàn tính hỏi dò bề trên.
 

Bề trên bổn sở hai bên,
Bàn rồi đi với mấy tên theo cùng,
 

Đi lên vừa giữa sơn trung
Sai đàng lạc nẻo, lạ lùng thể nao.
 

Lại nghe tiếng cọp nghêu ngao,
Hồn bay phách lạc, xôn xao bồi hồi.
 

Bây giờ trở đứng trở ngồi,
Ngồi đây cũng khốn, khứ hồi nan đi,
 

May đâu hai gã đồng nhi,
Kêu nhau hí hó mà đi tìm bò
 

Hai ngài trong bụng bớt lo,
Hỏi han hai đứa chỉ cho khúc đàng.
 

Lên vừa tới điện La Vang,
Thấy hình Đức Mẹ duông nhan tốt lành.
 

Nay đà mắt thấy đành rành,
Lòng bắt cảm động phục tình chẳng nghi.
 

Ra về trò chuyện vân vi,
Phen nầy ta phải tức thì lo toan.
 

Đền thờ Đức Mẹ La Vang
Phải xây chỉnh đốn, bạc vàng Chúa lo.
 

Nay mai ta phải làm thơ,
Để khuyên giáo hữu thuận tờ việc quan
 

Nghe thơ ai nấy hỉ hoan,
Không tiền dâng cúng, sẵn sàng dâng công.
 

Súc săng, gạch ngói gánh gồng,
Đàng xa khó nhọc, cũng không nề hà.

Sáu năm ngày lụn tháng qua,
Nhà thờ xây lợp cũng đà sự thanh.
 

Nay lo đến việc lạc thành,
Sắm sửa soạn sành để kiệu cho luôn.
 

Khắp nơi dưới biển trên nguồn,
Thôn quê dinh liễu cũng đồng đua tranh
 

Kinh kia bài nọ tập tành
Chế bài cách kiểu cho hoanh đội hàng.
 

Cân y mão phục đoan trang,
Náp, hèo, cờ, quạt, lọng tàn ba đăng
 

Soạn sành tập luyện mấy trăng,
Mười ba tháng bảy lòng hằng đợi trông
 

Có nơi nổi tính hăng nồng,
Lại thêm tập múa đội bông đội hèo.
 

Người đi bộ, kẻ thuyền chèo,
Trên đất dưới nước, cứ theo phận mình.
 

Mười ba tháng bảy thanh minh
Cổ Vưu sở tại đến trình thưa cha:
 

Chúng con xin kiệu Đức Bà,
Một vòng khắp họ kẻo mà nhớ thương.
 

Bấy lâu Mẹ ngự thánh đường,
Mai thì đưa Mẹ lên phường La-Vang.
 

Kiệu quanh khắp họ khắp làng,
Viếng thăm con cái họ hàng chúng con.
 

Cha nghe họ nói thon von
Cũng cho như ý kẻo còn nhỏ to.
 

Vậy thì đội ngũ kéo vô,
Truyền cho các chị các cô theo chầu.
 

Hoa đèn sắm dọn đã lâu,
Nay đem đấu xảo, lại chầu một khi.
 

Dẩu ai có tập đội chi,
Hoặc đèn hoặc náp cũng thi tối ngày.
 

Họ nào kinh nguyện tập hay,
Đem vô đấu xảo, sánh bày chê khen.
 

Cổ Vưu Ngô Xá đội đèn
Đem ra múa lộn, khá khen giải đầu.
 

Phủ Cam quyển sáo thổi chầu
Trống, đờn, sanh, quyển khá âu rập ràng
 

Bố Liêu kinh nguyện chững chàng.
Cung hay giọng tốt khá đang thuông lề,
 

Kẻ Văn cờ ảnh đã bề
Hội ven cung cách ai chê được rày.
 

Họ nầy họ nọ sánh bày,
Hoa đèn trau dọn là ngày mười ba,
 

Truyền về mười bốn sáng ra
Giờ Dần giờ Mẹo các Cha dặn dò;
 

Họ nào đình trú ở mô,
Đêm ra hiệu lệnh phải lo ra dàn.
 

Người ta trên bộ vô vàn,
Dưới sông dưới bến chứa chan thuyền đò.
 

Người qua kẻ lại trầm trồ,
Cùng nhau truyện vãn nhỏ to rộn ràng.
 

Vừa nghe lệnh, thảy lặng an
Sắp đâu có thẻ, cứ hàng mà đi
 

Từ đàng quan tới rú ri,
Hai hàng đội ngũ uy nghi chững chàng
 

Trống chiêng, pháo lói đầy vang,
Ca ngâm hát xướng nhịp nhàng êm tai.
 

Đỗi đàng ước bảy dặm dài
Người ta sắp đội gần hai phần đàng.
 

Các Cha lễ lạc vừa an,
Cũng đều áo mão sắp hàng đi ra.
 

Giữa thì lại có Đức cha,
Các thầy các chú điều hòa bước đi.
 

Sáu giờ chuông đánh một khi
Mới xem bàn kiệu uy nghi rõ ràng.
 

Cổ Vưu đội ngũ nghiêm trang,
Hầu cận bên bàn đưa Mẹ ngự lên.
 

Mặt trời mới mọc chênh chênh,
Nắng lò ánh giọi chói bên mặt người
 

Đám mây đâu phút dạo chơi,
Khắp cả hướng trời im mát lạ thay!
 

Để cho ai nấy đặng hay,
Nay thật là ngày Đức Mẹ đã ban.
 

Kiệu vô vừa đến La Vang
Liền chưng ảnh Mẹ trên bàn đặt cao
 

Hoa đèn kế tiếp sắp vào,
Đoạn làm lễ hát, rồi sau phép lành.
 

Mười giờ cơ cuộc hoàn thành,
Lao xao liến xiến, lữ hành kêu nhau.
 

Người bẻ lá, kẻ hái rau….
Đem về cất lấy khi đau mà dùng.
 

Kéo nhau vào tạ thánh cung,
Tuy dầu lui gót dạ không muốn về
 

 

Ơn trên đượm nhuần phủ phê,
Một phen viếng Mẹ, mựa hề dám quên.
 

 

----------- CHUNG -----------  

            ( 324 câu ) 

 

 

top1 p1 p2 p3 p4 p5 p6 p7 p7

_____________________

CHÚ THÍCH

 

[1] Tb VÌ CHÚA. SỐ 91. Ngày 05.08.1938, tr.1.

[2] Tập thơ CẢM THÔNG. T Mary Hoàng Mai Anh. Vinh Sơn Đà Nẵng phát hành 1958. Tr.26,27,28

[3] Ns ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP. Số 159. Tháng 08.1962, tr.240.

[4] Ns ĐỨC MẸ LA VANG. Số 12. Tháng 08.1962, tr.80.

[5] Ns ĐỨC MẸ LA VANG. Số 8. Tháng 04.1962, tr.61,62.

[6] TUYỂN TẬP THO LA VANG – Kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang. Hướng Dương. 84.

[7] Tập thơ HƯƠNG NGUYỆN. Mai Thành. Tr.116,117,118.

[8] Tập thơ LA VANG NGÀN DẶM VIỆT NAM. Trăng Thập Tự. 1998. Tr.87.

[9] Tập thơ LA VANG QUÊ MẸ TRONG TRÁI TIM. Trần Quang Chu. Tr.150,151.

[10] VÔ DANH THỊ. Đức cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn sưu tầm, hiệu đính và xuất bản.