header

Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa,
và Ngôi Lời là Thiên Chúa. (Ga 1:1)

SÁCH SỬ BIÊN NIÊN QUYỂN THỨ NHẤT
Từ chương 1 đến chương 10

CHƯƠNG 1

1 Ông A-đam, ông Sết, ông E-nốt. 2 Ông Kê-nan, ông Ma-ha-lan-ên, ông Gie-rét. 3 Ông Kha-nốc, ông Mơ-thu-se-lác, ông La-méc. 4 Ông Nô-ê, ông Sêm, ông Kham, ông Gia-phét.

5 Các con của ông Gia-phét là Gô-me, Ma-gốc, Mê-đi, Gia-van, Tu-van, Me-séc, Ti-rát.

6 Các con của ông Gô-me là Át-cơ-nát, Ri-phát, Tô-gác-ma, 7 Các con của ông Gia-van là Ê-li-sa, Tác-sít, người Kít-tim, người Rô-đa-nim.

8 Các con của ông Kham là Cút, Mít-ra-gim, Pút, Ca-na-an.

9 Các con của ông Cút là Xơ-va, Kha-vi-la, Xáp-ta, Ra-ơ-ma, Xáp-tơ-kha. Các con của ông Ra-ơ-ma là Sơ-va, Đơ-đan. 10 Ông Cút sinh ra ông Nim-rốt là người anh hùng đầu tiên trên mặt đất.

11 Ông Mít-ra-gim sinh ra dân Lút, dân A-nam, dân Lơ-háp, dân Náp-tu-khim, 12 dân Pát-rốt, dân Cát-lúc và dân Cáp-to, từ dân này mới có dân Phi-li-tinh. 13 Ông Ca-na-an sinh ra ông Xi-đôn là con đầu lòng, rồi sinh ông Khết, 14 và các người Giơ-vút, người E-mô-ri, người Ghia-ga-si, 15 người Khi-vi, người Ác-ki, người Xi-ni, 16 người Ác-vát, người Xơ-ma-ri, người Kha-mát.

17 Các con của ông Sêm là Ê-lam, Át-sua, Ác-pắc-sát, Lút, A-ram, Út, Khun, Ghe-the, Me-séc.

18 Ác-pắc-sát sinh Se-lác. Se-lác sinh Ê-ve. 19 Ê-ve được hai người con trai : người thứ nhất tên là Pe-lét, vì trong thời gian ông sống, đất được phân chia ; người em tên là Gióc-tan.

20 Gióc-tan sinh An-mô-đát, Se-lép, Kha-xa-ma-vét, Gie-rác, 21 Ha-đô-ram, U-dan, Đích-la, 22 Ê-van, A-vi-ma-ên, Sơ-va, 23 Ô-phia, Kha-vi-la, Giô-váp. Tất cả những người đó là con của ông Gióc-tan.

24 A-pắc-sát, Se-lác, 25 Ê-ve, Pe-lét, Rơ-u, 26 Xơ-rúc, Na-kho, Te-rác, 27 Áp-ram, tức là Áp-ra-ham. 28 Các con của ông Áp-ra-ham là I-xa-ác và Ít-ma-ên. Đây là hậu duệ của các ngài.

29 Con đầu lòng của ông Ít-ma-ên là Nơ-va-giốt, rồi đến Kê-đa, Át-bơ-ên, Míp-xam, 30 Mít-ma, Đu-ma, Ma-xa, Kha-đát, Tê-ma, 31 Giơ-tua, Na-phít, Kết-ma. Đấy là các con của ông Ít-ma-ên. 32 Con của bà Cơ-tu-ra, vợ lẽ của ông Áp-ra-ham : bà sinh Dim-ran, Gióc-san, Mơ-đan, Ma-đi-an, Gít-bắc, Su-ác. Các con của ông Gióc-san là Sơ-va và Đơ-đan. 33 Các con của ông Ma-đi-an là Ê-pha, Ê-phe, Kha-nốc, A-vi-đa, En-đa-a. Tất cả những người ấy là con cháu bà Cơ-tu-ra.

34 Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác. Các con của ông I-xa-ác là Ê-xau và Ít-ra-en.

35 Các con của ông Ê-xau là Ê-li-phát, Rơ-u-ên, Giơ-út, Gia-lam, Cô-rắc. 36 Các con của ông Ê-li-phát là Tê-man, Ô-ma, Xơ-phi, Ga-ơ-tam, Cơ-nát, Tim-na, A-ma-lếch. 37 Các con của ông Rơ-u-ên là Na-khắt, De-rác, Sam-ma, Mít-da.

38 Các con của ông Xê-ia là Lô-tan, Sô-van, Xíp-ôn, An-na, Đi-sôn, Ê-xe, Đi-san. 39 Các con của ông Lô-tan là Khô-ri, Hô-mam. Em gái của ông Lô-tan là Tim-na. 40 Các con của ông Sô-van là An-gian, Ma-na-khát, Ê-van, Sơ-phi, Ô-nam. Các con của ông Xíp-ôn là Ai-gia và A-na. 41 Con của ông A-na là Đi-sôn. Các con của ông Đi-sôn là Kham-ran, Ét-ban, Gít-ran, Cơ-ran. 42 Các con của ông Ê-xe là Bin-han, Da-a-van, Gia-a-can. Các con của ông Đi-sôn là Út và A-ran.

43 Đây là các vua cai trị xứ Ê-đôm trước khi con cái Ít-ra-en có vua : vua Be-la con vua Bơ-o, và thành của vua tên là Đin-ha-va. 44 Vua Bê-la qua đời, ông Giô-váp, con ông De-rác, người Bót-ra, lên kế vị. 45 Vua Giô-váp qua đời, ông Khu-sam, người gốc xứ Tê-man, lên kế vị. 46 Vua Khu-sam qua đời, ông Ha-đát, con ông Bơ-đát, lên kế vị. Vua này đánh bại người Ma-đi-an trong cánh đồng Mô-áp, thành của vua tên là A-vít. 47 Vua Ha-đát qua đời, ông Xam-la, người thành Mát-rê-ca, lên kế vị. 48 Vua Xam-la qua đời, ông Sa-un, người thành Rơ-khô-vốt Ha Na-ha lên kế vị. 49 Vua Sa-un qua đời, ông Ba-an Kha-nan, con ông Ác-bo lên kế vị. 50 Vua Ba-an Kha-nan qua đời, ông Ha-đát lên kế vị ; thành của vua tên là Pa-i ; vợ vua tên là Mơ-hê-táp-ên, con gái ông Ma-rết, người thành Mê Da-háp.

51 Vua Ha-đát qua đời thì có các tộc trưởng Ê-đôm : tộc trưởng Tim-na, tộc trưởng An-va, tộc trưởng Giơ-thết, 52 tộc trưởng O-ho-li-va-ma, tộc trưởng Ê-la, tộc trưởng Pi-nôn, 53 tộc trưởng Cơ-nát, tộc trưởng Tê-man, tộc trưởng Míp-xa, 54 tộc trưởng Mác-đi-ên, tộc trưởng I-ram. Đó là các tộc trưởng Ê-đôm.

CHƯƠNG 2

1 Đây là các con ông Ít-ra-en : Rưu-vên, Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Ít-xa-kha, Dơ-vu-lun, 2 Đan, Giu-se, Ben-gia-min, Náp-ta-li, Gát, A-se.

3 Các con ông Giu-đa : E, Ô-nan, Sê-la ; cả ba đều là con ông, do bà Bát Su-a người Ca-na-an sinh ra. Ông E, con đầu lòng ông Giu-đa, làm mất lòng ĐỨC CHÚA, nên Người khiến ông chết. 4 Bà Ta-ma, con dâu ông Giu-đa, sinh cho ông này Pe-rét và De-rác. Ông Giu-đa có tất cả năm người con.

5 Các con của ông Pe-rét là Khét-rôn và Kha-mun.

6 Các con của ông De-rác là : Dim-ri, Ê-than, Hê-man, Can-côn, Đa-ra, tất cả là năm người.

7 Con của ông Các-mi là A-kha, kẻ gây tai hoạ cho Ít-ra-en, vì đã vi phạm luật biệt hiến.

8 Con của ông Ê-than là A-dác-gia. Nguồn gốc vua Đa-vít

9 Các con của ông Khét-rôn, những người đã được sinh ra cho ông : Giơ-rác-mơ-ên, Ram, Cơ-lu-vai.

10 Ram sinh Am-mi-na-đáp, Am-mi-na-đáp sinh Nác-sôn, thủ lãnh con cái ông Giu-đa. 11 Nác-sôn sinh Xan-ma, Xan-ma sinh Bô-át. 12 Bô-át sinh Ô-vết, Ô-vết sinh Gie-sê. 13 Gie-sê sinh con đầu lòng là Ê-li-áp, con thứ là A-vi-na-đáp, và Sim-a là thứ ba, 14 Nơ-than-ên thứ tư, Rát-đai thứ năm, 15 Ô-xem thứ sáu, Đa-vít thứ bảy. 16 Chị em gái của họ là Xơ-ru-gia và A-vi-ga-gin. Các con của bà Xơ-ru-gia có ba người là Áp-sai, Giô-áp, A-xa-hên. 17 Bà A-vi-ga-gin sinh A-ma-xa, cha của A-ma-xa là Gie-the, người Ít-ma-ên.

Ông Ca-lếp, con ông Khét-rôn, cùng vợ là bà A-du-va sinh ra ông Giơ-ri-ốt. Đây là các con của bà : Giê-se, Sô-váp, Ác-đôn. 19 Bà A-du-va chết, ông Ca-lếp cưới bà Ép-rát, và bà này sinh ra cho ông người con tên là Khua. 20 Khua sinh U-ri, U-ri sinh Bơ-xan-ên.

21 Sau đó ông Khét-rôn đến với con gái ông Ma-khia, cha ông Ga-la-át. Khi cưới bà, ông đã sáu mươi tuổi, và bà sinh ra Xơ-gúp cho ông. 22 Xơ-gúp sinh Gia-ia ; ông này có tới hai mươi ba thành trong xứ Ga-la-át. 23 Nhưng Gơ-sua và A-ram chiếm mất của họ các thôn làng thuộc Gia-ia, Cơ-nát và các nơi phụ cận là sáu mươi thành. Tất cả những người đó đều là con cháu ông Ma-khia, cha ông Ga-la-át.

24 Sau khi ông Khét-rôn chết, thì ông Ca-lếp lại kết hôn với bà Ép-ra-tha, vợ goá của ông Khét-rôn cha mình. Bà đã sinh ra cho ông người con tên là Át-khua, cha của ông Tơ-cô-a.

25 Các con của ông Giơ-rác-mơ-ên, con đầu lòng của ông Khét-rôn, là : Ram, con đầu lòng, rồi Bu-na, Ô-ren, Ô-xem, A-khi-gia. 26 Ông Giơ-rác-mơ-ên có một người vợ khác tên là A-ta-ra, đó là mẹ của ông Ô-nam.

27 Các con của ông Ram, con đầu lòng của ông Giơ-rác-mơ-ên, là : Ma-át, Gia-min, Ê-ke.

28 Các con của ông Ô-nam là : Sam-mai và Gia-đa. Các con của ông Sam-mai là Na-đáp và A-vi-sua. 29 Tên người vợ của ông A-vi-sua là A-vi-kha-gin. Bà này sinh ra Ác-ban và Mô-lít cho ông. 30 Các con của ông Na-đáp là Xe-lét và Áp-pa-gim. Ông Xe-lét chết mà không có con. 31 Con của ông Áp-pa-gim là Gít-i ; con của ông Gít-i là Sê-san ; con của ông Sê-san là Ác-lai. 32 Các con của ông Gia-đa, em của ông Sam-mai, là Gie-the và Giô-na-than. Ông Gie-the chết mà không có con. 33 Các con của ông Giô-na-than là Pe-lét và Da-da. Đó là con cháu của ông Giơ-rác-mơ-ên.

34 Ông Sê-san không có con trai, chỉ có con gái. Ông có người đầy tớ Ai-cập tên là Giác-kha. 35 Ông Sê-san gả con gái cho anh đầy tớ làm vợ. Bà này sinh ra Át-tai cho ông. 36 Ông Át-tai sinh Na-than, Na-than sinh Da-vát, 37 Da-vát sinh Ép-lan, Ép-lan sinh Ô-vết, 38 Ô-vết sinh Giê-hu, Giê-hu sinh A-dác-gia, 39 A-dác-gia sinh Khe-lét, Khe-lét sinh En-a-xa, 40 En-a-xa sinh Xít-mai, Xít-mai sinh Sa-lum, 41 Sa-lum sinh Giơ-cam-gia, Giơ-cam-gia sinh Ê-li-sa-ma.

42 Các con của ông Ca-lếp, em ông Giơ-rác-mơ-ên, là Mê-sa, con đầu lòng (ông này là cha của ông Díp) và Ma-rê-sa, cha ông Khép-rôn. 43 Các con của ông Khép-rôn là Cô-rắc, Táp-pu-ác, Re-kem, Se-ma. 44 Ông Se-ma sinh Ra-kham, cha của Gióc-cơ-am. Ông Re-kem sinh Sam-mai. 45 Con của ông Sam-mai là Ma-ôn, cha của Bết-xua.

46 Bà Ê-pha, tỳ thiếp của ông Ca-lếp, sinh Kha-ran, Mô-xa, Ga-dết. Ông Kha-ran sinh Ga-dết.

47 Các con của ông Gia-đai là Re-ghem, Giô-tham, Ghê-san, Pe-lét, Ê-pha, Sa-áp.

48 Bà Ma-a-kha, tỳ thiếp của ông Ca-lếp sinh Se-ve và Tia-kha-na. 49 Bà cũng sinh Sa-áp, cha của Mát-man-na, và Sơ-va, cha của Mác-bê-na và của Ghíp-a.

Con gái của ông Ca-lếp là Ác-xa.

50 Đó là con cháu ông Ca-lếp.Các con của ông Khua, con đầu lòng của bà Ép-ra-tha, là : Sô-van, cha của Kia-giát Giơ-a-rim, 51 Xan-ma, cha của Bê-lem, Kha-rép, cha của Bết Ga-đe. 52 Ông Sô-van, cha của Kia-giát Giơ-a-rim, có những người con sau đây : ông Ha-rô-e, một nửa dân Ma-na-khát, 53 các thị tộc Kia-giát Giơ-a-rim, dân Gít-ri, dân Pút, dân Su-ma, dân Mít-ra. Từ các người ấy đã phát xuất ra các dân Xo-rơ-a và Ét-ta-ôn.

54 Các con của ông Xan-ma là : ông Bê-lem, dân Nơ-tô-pha, ông Át-rốt Bết Giô-áp, một nửa dân Ma-na-khát nữa, dân Xo-rơ-a. 55 Các thị tộc người Xô-phơ-rim cư ngụ tại Gia-bết là : Tia-a, Sim-a, Xu- kha. Đó là những người Kê-ni xuất thân từ Kham-mát, tổ phụ của gia đình Rê-kháp.

CHƯƠNG 3

1 Đây là các con của vua Đa-vít, sinh tại Khép-rôn. Con đầu lòng là Am-nôn, do bà A-khi-nô-am người Gít-rơ-en ; người con thứ là Đa-ni-ên, do bà A-vi-ga-gin người Các-men ; 2 người thứ ba là Áp-sa-lôm, con bà Ma-a-kha, ái nữ của Tan-mai vua Gơ-sua ; người thứ tư là A-đô-ni-gia, con bà Khác-ghít ; 3 người thứ năm là Sơ-phát-gia, do bà A-vi-tan ; người thứ sáu là Gít-rơ-am, do bà Éc-la vợ ông. 4 Sáu người này là con ông sinh tại Khép-rôn, nơi ông trị vì bảy năm sáu tháng.

Rồi ông trị vì tại Giê-ru-sa-lem được ba mươi ba năm.

5 Đây là các con ông đã sinh tại Giê-ru-sa-lem : Sim-a, Sô-váp, Na-than, Sa-lô-môn, bốn người do bà Bát Su-a, con gái của ông Am-mi-ên ; 6 Gíp-kha, Ê-li-sa-ma, Ê-li-pha-lét, 7 Nô-ga, Ne-phéc, Gia-phia, 8 Ê-li-sa-ma, En-gia-đa, Ê-li-phe-lét, chín người tất cả.

9 Đó là tất cả các con vua Đa-vít, không kể các con do các tỳ thiếp. Còn Ta-ma là chị em của họ.

10 Các con của vua Sa-lô-môn là : Rơ-kháp-am, A-vi-gia con ông ; A-xa, con ông ; Giơ-hô-sa-phát, con ông ; 11 Giô-ram con ông ; A-khát-gia-hu con ông ; Giô-át con ông ; 12 A-mát-gia-hu con ông ; A-dác-gia con ông ; Giô-than con ông ; 13 A-khát con ông ; Khít-ki-gia con ông ; Mơ-na-se con ông ; 14 A-môn con ông ; Giô-si-gia-hu con ông. 15 Các con của ông Giô-si-gia-hu là : Giô-kha-nan con trưởng, Giơ-hô-gia-kim con thứ, Xít-ki-gia-hu con thứ ba, Sa-lum con thứ tư. 16 Các con của ông Giơ-hô-gia-kim là Giơ-khon-gia con ông, Xít-ki-gia-hu con ông.

17 Các con vua Giơ-khon-gia, người bị đi đày, là San-ti-ên con ông ; 18 Man-ki-ram, Pơ-đa-gia, Sen-át-xa, Giơ-cam-gia, Hô-sa-ma, Nơ-đáp-gia. 19 Các con ông Pơ-đa-gia là Dơ-rúp-ba-ven và Sim-y. Các con ông Dơ-rúp-ba-ven là Mơ-su-lam, Kha-nan-gia, bà Sơ-lô-mít, em gái các ông. 20 Các con ông Mơ-su-lam là : Kha-su-va, Ô-hen, Be-réc-gia, Kha-xát-gia, Giu-sáp Khe-xét : tất cả là năm người. 21 Các con ông Kha-nan-gia là : Pơ-lát-gia ; Giơ-sa-gia con ông ; Rơ-pha-gia con ông ; Ác-nan con ông ; Ô-vát-gia con ông ; Sơ-khan-gia con ông. 22 Con của ông Sơ-khan-gia là Sơ-ma-gia. Các con ông Sơ-ma-gia là : Khát-tút, Gích-an, Ba-ri-ác, Nơ-ác-gia, Sa-phát : tất cả là sáu người. 23 Các con ông Nơ-ác-gia là : En-giô-ê-nai, Khít-ki-gia, Át-ri-cam : tất cả là ba người. 24 Các con ông En-giô-ê-nai là : Hô-đai-va-hu, En-gia-síp, Pơ-la-gia, Ác-cúp, Giô-kha-nan, Đơ-la-gia, A-na-ni : tất cả là bảy người.

CHƯƠNG 4

1 Các con ông Giu-đa là : Pe-rét, Khét-rôn, Các-mi, Khua, Sô-van.

2 Rơ-a-gia, con Sô-van, sinh Gia-khát ; Gia-khát sinh A-khu-mai và La-hát. Đó là các thị tộc người Xo-rơ-a.

3 Đây là các con của ông Khua : người cha của Ê-tham, rồi đến Gít-rơ-en, Gít-ma, Gít-bát. Em gái các ông tên là Hát-len-pô-ni.

4 Pơ-nu-ên là cha của Gơ-đo. Ê-de là cha của Khu-sa.

Đó là các con ông Khua, con đầu lòng của ông Ép-ra-tha, cha của ông Bê-lem.

5 Ông Át-khua, cha của Tơ-cô-a, có hai bà vợ là Khen-a và Na-a-ra.

6 Bà Na-a-ra sinh ra cho ông : A-khút-dam, Khê-phe, các người Têm-ni và người A-khát-ta-ri. Đó là con cháu bà Na-a-ra.

7 Các con của bà Khen-a là : Xe-rét, Giơ-xô-kha, Ét-nan.

8 Ông Cốt sinh A-núp, Hát-xô-vê-va và các thị tộc A-khác-khên, con Ha-rum. 9 Ông Gia-bết vẻ vang hơn các anh em mình. Mẹ ông đặt tên cho ông là Gia-bết ; bà nói : "Tôi đã sinh ra nó trong cơn khốn khổ." 10 Ông Gia-bết kêu cầu Thiên Chúa Ít-ra-en rằng : "Nếu thật Ngài giáng phúc cho con, thì xin nới rộng bờ cõi của con và xin tay Ngài phù trợ con, làm cho sự dữ lìa xa và cho con thoát cơn khốn khổ." Thiên Chúa đã ban cho ông điều ông xin.

11 Ông Cơ-lúp, anh em của Su-kha, sinh Mơ-khia là cha của Ét-tôn. 12 Ét-tôn sinh Bết Ra-pha, Pa-xê-ác, Tơ-khin-na, cha của Ia Na-khát. Đó là những người thành Rê-kháp.

13 Các con ông Cơ-nát là : Ót-ni-ên và Xơ-ra-gia. Các con ông Ót-ni-ên là Kha-thát và Mơ-ô-nô-thai. 14 Mơ-ô-nô-thai sinh Óp-ra ; Xơ-ra-gia sinh Giô-áp cha của Ghê Kha-ra-sim, vì họ là những người thợ thủ công.

15 Các con của ông Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne, là : I-ru, Ê-la, Na-am. Con của Ê-la là Cơ-nát.

16 Các con của ông Giơ-ha-len-ên là Díp, Di-pha, Tia-gia, A-xác-ên. 17 ; Các con của ông Ét-ra là Gie-the, Me-rét, E-phe, Gia-lôn.

và bà mang thai Mi-ri-am, Sam-mai, Gít-bác, cha của Ét-tơ-mô-a.

18 Vợ ông, một người Giu-đa, đã sinh ra Gie-rét, cha của Gơ-đo, rồi sinh Khe-ve, cha của Xô-khô, Giơ-cô-thi-ên, cha của Da-nô-ác.

Đây là các con bà Bít-gia, công chúa của Pha-ra-ô mà ông Me-rét đã cưới làm vợ;

19 Các con bà vợ ông Hô-đi-gia, chị em với ông Na-kham là : cha của các ông Cơ-i-la, người Gác-mi và Ét-tơ-mô-a, người Ma-a-kha.

20 Các con ông Si-môn là : Am-nôn, Rin-na, Ben Kha-nan, Ti-lôn.

Các con ông Gít-i là Dô-khết và Ben Dô-khết.

21 Các con ông Sê-la, con ông Giu-đa, là : E, cha của Lê-kha, La-đa, cha của Ma-rê-sa và các thị tộc những người dệt gấm tại Bết Át-bê-a ; 22 Giô-kim, các người Cô-dê-va, Giô-át và Xa-ráp, những người đã làm chủ Mô-áp, rồi lại trở về Bê-lem. Đó là (chuyện xưa). 23 Những người này là thợ gốm, họ cư ngụ tại Nơ-ta-im và Gơ-đê-ra ; họ ở đấy với đức vua để phục vụ ông.

24 Các con ông Si-mê-ôn là : Nơ-mu-ên, Gia-min, Gia-ríp, De-rác, Sa-un, 25 Sa-lum con ông, Míp-xam con ông, Mít-ma con ông. 26 Các con ông Mít-ma là : Kham-mu-ên con ông, Dắc-cua con ông, Sim-y con ông. 27 Ông Sim-y được mười sáu người con trai và sáu người con gái, còn anh em ông thì không có nhiều con cái, và các thị tộc của họ không phát triển được như con cái Giu-đa.

28 Họ cư ngụ tại Bơ-e Se-va, Mô-la-đa và Kha-xa Su-an, 29 tại Bin-ha, tại E-xem và tại Tô-lát, 30 tại Bơ-thu-ên, tại Khoóc-ma, tại Xích-lắc, 31 tại Bết Mác-ca-vốt, tại Kha-xa Xu-xim, tại Bết Bia-i và tại Sa-a-ra-gim. Đấy là các thành của họ cho tới khi vua Đa-vít lên ngôi. 32 Còn các thôn làng của họ thì có năm là : Ê-tham, A-gin, Rim-môn, Tô-khen, A-san ; 33 và tất cả các thôn làng nằm chung quanh các thành ấy cho cho tới Ba-an. Đó là những nơi họ cư trú và được đăng bộ. 34 Mơ-sô-váp, Giam-lếch, Giô-sa, con của A-mát-gia, 35 Giô-en, Giê-hu, con của Giô-síp-gia, con của Xơ-ra-gia, con của A-xi-ên, 36 En-giô-ê-nai, Gia-a-cô-va, Giơ-sô-kha-gia, A-xa-gia, A-đi-ên, Giơ-xi-mi-ên, Bơ-na-gia, 37 Di-da, Ben Síp-y, Ben A-lôn, Ben Giơ-đa-gia, Ben Sim-ri, Ben Sơ-ma-gia. 38 Những người ấy được ghi đích danh, đều là những người đứng đầu các thị tộc, và các gia tộc của họ đã tăng lên rất nhiều. 39 Từ lối vào Gơ-đo, họ đi tới phía đông thung lũng để tìm đồng cỏ cho đoàn vật của mình. 40 Họ tìm được những đồng cỏ xanh tươi, tốt đẹp, và đất đai thì rộng thênh thang, lại an toàn và yên ổn : vì trước kia con cái ông Kham đã cư ngụ tại đó.

41 Các người được ghi đích danh ấy đã tới vào thời vua Khít-ki-gia làm vua Giu-đa ; họ đánh chiếm các lều trại và gia cư gặp thấy ở đó. Họ áp dụng luật tru hiến cho những thứ ấy đến ngày nay. Rồi họ định cư thay thế người ta, vì ở đấy có đồng cỏ cho đoàn vật của họ.

42 Năm trăm người trong số con cái Si-mê-ôn đi tới vùng núi Xê-ia, đứng đầu là ông Pơ-lát-gia, ông Nơ-ác-gia, ông Rơ-pha-gia, ông Út-di-ên, các con ông Gít-i. 43 Họ giết hết số người A-ma-lếch thoát chết còn sót lại, rồi cư ngụ ở đó cho đến ngày nay.

CHƯƠNG 5

1 Các con ông Rưu-vên, người con đầu lòng của ông Ít-ra-en. Chính ông, người con đầu lòng đó, nhưng vì ông đã làm nhơ bẩn giường của cha ông, nên quyền trưởng nam của ông đươc trao cho các con ông Giu-se, con ông Ít-ra-en ; ông không được thừa hưởng quyền trưởng nam nữa. 2 Tuy ông Giu-đa trổi hơn anh em mình, vì một vị thủ lãnh đã xuất thân từ nơi ông, nhưng quyền trưởng nam lại thuộc về ông Giu-se.

3 Các con ông Rưu-vên, người con đầu lòng của ông Ít-ra-en, là : Kha-nốc, Pa-lu, Khét-rôn, Các-mi.

4 Các con ông Giô-en là : Sơ-ma-gia con ông, Gốc con ông, Sim-y con ông, 5 Mi-kha con ông, Rơ-a-gia con ông, Ba-an con ông, 6 Bê-ơ-ra con ông, người đã bị vua Tích-lát Pi-le-xe bắt đi đày. Chính ông là thủ lãnh các người họ Rưu-vên.

7 Các anh em của ông, tính theo thị tộc và được đăng bộ theo gia phả : đứng đầu là Giơ-y-ên, rồi Dơ-khác-gia-hu, 8 Be-la con của A-dát, con của Se-ma, con của Giô-en.

Chi tộc Rưu-vên cư ngụ tại A-rô-e, cho đến tận Nơ-vô và Ba-an Mơ-ôn. 9 Về phía đông họ lập cư cho tới ven sa mạc tiếp cận sông Êu-phơ-rát, vì họ có nhiều súc vật trong xứ Ga-la-át.

10 Thời vua Sa-un, họ đánh nhau với dân Ha-ga, nhưng đã rơi vào tay chúng và chúng đã lập cư trong các lều trại của họ trên toàn phía đông xứ Ga-la-át.

11 Đối diện với họ là con cái ông Gát lập cư trong đất Ba-san cho tới Xan-kha. 12 Đứng đầu là Giô-en, thứ đến là Sa-pham, rồi Gia-nai và Sa-phát tại Ba-san.

13 Anh em của họ, theo gia tộc tổ tiên, là : Mi-kha-ên, Mơ-su-lam, Se-va, Giô-rai, Gia-can, Di-a, Ê-ve : tất cả là bảy người.

14 Đây là các con của ông A-vi-kha-gin : Ben Khu-ri, Ben Gia-rô-ác, Ben Ga-la-át, Ben Mi-kha-ên, Ben Giơ-si-sai, Ben Giác-đô, Ben Bút. 15 A-khi, con của Áp-đi-ên, con của Gu-ni, là người đứng đầu gia tộc tổ tiên họ.

16 Họ cư ngụ tại Ga-la-át, tại Ba-san và các nơi phụ cận, cũng như tại tất cả các đồng cỏ Sa-rôn cho tới ranh giới cuối cùng của các đồng cỏ ấy. 17 Tất cả những người ấy đã đăng bộ thời vua Giô-tham cai trị Giu-đa và vua Gia-róp-am cai trị Ít-ra-en.

18 Con cái chi tộc Rưu-vên và chi tộc Gát, một nửa chi tộc Mơ-na-se, một số các dũng sĩ, những người biết dùng thuẫn và gươm, biết giương cung và thạo việc binh đao : tất cả là bốn mươi bốn ngàn bảy trăm sáu mươi người rành nghề chinh chiến. 19 Họ đánh nhau với dân Ha-ga tại Giơ-tua, Na-phít và Nô-đáp. 20 Họ được Thiên Chúa trợ giúp chống lại chúng ; quân Ha-ga và tất cả đồng minh của chúng đã bị trao vào tay họ, vì họ đã kêu lên cùng Thiên Chúa khi giao chiến ; Người đã nghe lời họ, vì họ tin tưởng nơi Người. 21 Họ chiếm đoạt các đoàn vật của chúng : năm mươi ngàn lạc đà, hai trăm năm mươi ngàn chiên cừu, hai ngàn con lừa và giết một trăm ngàn nhân mạng. 22 Sở dĩ có nhiều người bị gươm đâm ngã gục, là vì trận chiến do Thiên Chúa. Họ chiếm chỗ dân ấy và lập cư cho đến thời lưu đày.

23 Con cháu một nửa chi tộc Ma-nơ-se lập cư trong vùng nằm giữa Ba-san và Ba-an Khéc-môn, Xơ-nia và núi Khéc-môn. Họ thật đông. 24 Đây là những người đứng đầu các gia tộc tổ tiên họ : Ê-phe, Gít-i, Ê-li-ên, Át-ri-ên, Giếc-mơ-gia, Hô-đát-gia, Giác-đi-ên. Họ là những anh hùng dũng sĩ, những người nổi danh, những người đứng đầu các gia tộc tổ tiên họ. 25 Nhưng họ lại thất trung với Thiên Chúa của tổ tiên họ, và đàng điếm theo các thần của dân địa phương mà Thiên Chúa đã tiêu diệt trước mặt họ. 26 Thiên Chúa Ít-ra-en kích động tinh thần vua Pun xứ Át-sua, và tinh thần vua Tích-lát Pi-le-xe xứ Át-sua, người đã đày con cái chi tộc Rưu-vên, chi tộc Gát cùng một nửa chi tộc Mơ-na-se, và đưa họ tới Khơ-lác, Kha-vo, Kha-ra và sông Gôn-dan cho đến ngày nay.

27 Các con ông Lê-vi là Ghéc-sôn, Cơ-hát, Mơ-ra-ri. 28 Các con ông Cơ-hát là : Am-ram, Gít-ha, Khép-rôn, Út-di-ên. 29 Các con ông Am-ram là : A-ha-ron, Mô-sê, Mi-ri-am. Các con ông A-ha-ron là : Na-đáp, A-vi-hu, E-la-da, I-tha-ma.

30 E-la-da sinh Pin-khát ; Pin-khát sinh A-vi-su-a. 31 A-vi-su-a sinh Búc-ki ; Búc-ki sinh Út-di. 32 Út-di sinh Dơ-rác-gia ; Dơ-rác-gia sinh Mơ-ra-giốt. 33 Mơ-ra-giốt sinh A-mác-gia ; A-mác-gia sinh A-khi-túp. 34 A-khi-túp sinh Xa-đốc ; Xa-đốc sinh A-khi-ma-át. 35 A-khi-ma-át sinh A-dác-gia ; A-dác-gia sinh Giô-kha-nan. 36 Giô-kha-nan sinh A-dác-gia. Ông này là người đã thi hành chức vụ tư tế trong đền thờ vua Sa-lô-môn đã xây ở Giê-ru-sa-lem. 37 A-dác-gia sinh A-mác-gia ; A-mác-gia sinh A-khi-túp. 38 A-khi-túp sinh Xa-đốc ; Xa-đốc sinh Sa-lum. 39 Sa-lum sinh Khin-ki-gia ; Khin-ki-gia sinh A-dác-gia. 40 A-dác-gia sinh Xơ-ra-gia ; Xơ-ra-gia sinh Giơ-hô-xa-đắc. 41 Giơ-hô-xa-đắc đi lưu đày khi ĐỨC CHÚA phát lưu Giu-đa và Giê-ru-sa-lem thời vua Na-bu-cô-đô-nô-xo.

CHƯƠNG 6

1 Các con ông Lê-vi là Ghéc-sôm, Cơ-hát, Mơ-ra-ri.

2 Đây là tên các con ông Ghéc-sôm : Líp-ni, Sim-y. 3 Các con ông Cơ-hát là : Am-ram, Gít-ha, Khép-rôn, Út-di-ên. 4 Các con ông Mơ-ra-ri là : Mác-li, Mu-si. Đó là các thị tộc người Lê-vi theo tổ tiên họ.

5 Thuộc về ông Ghéc-sôm có Líp-ni con ông, Gia-khát con ông, Dim-ma con ông. 6 Giô-ác con ông, Ít-đô con ông, De-rác con ông, Giơ-át-rai con ông.

7 Các con ông Cơ-hát là : Am-mi-na-đáp con ông, Cô-rắc con ông, Át-xia con ông, 8 En-ca-na con ông, Ép-gia-xáp con ông, Át-xia con ông, 9 Ta-khát con ông, U-ri-ên con ông, Út-di-gia con ông, Sa-un con ông. 10 Các con ông En-ca-na là : A-ma-xai và A-khi-mốt, 11 En-ca-na con ông, Xô-phai con ông, Na-khắt con ông, 12 Ê-li-áp con ông, Giơ-rô-kham con ông, En-ca-na. 13 Các con ông En-ca-na là : Sa-mu-en con trưởng và A-vi-gia con thứ.

14 Các con ông Mơ-ra-ri là : Mác-li, Líp-ni con ông, Sim-y con ông, Út-da con ông, 15 Sim-a con ông, Khác-ghi-gia con ông, A-xa-gia con ông. Các ca sĩ

16 Đây là những người vua Đa-vít đã đặt lên điều khiển việc ca hát trong Nhà ĐỨC CHÚA, sau khi Hòm Bia an vị tại đó. 17 Công việc của họ trước Nhà Lều Hội Ngộ là ca hát, cho tới khi vua Sa-lô-môn xây Đền Thờ Đức Chúa tại Giê-ru-sa-lem ; họ thi hành luật dịch vụ theo luật lệ của họ.

Đây là những người thi hành công tác và con cái họ.

Trong số các con ông Cơ-hát có Hê-man ca trưởng, con của Giô-en, con của Sa-mu-en, 19 con của En-ca-na, con của Giơ-rô-kham, con của Ê-li-ên, con của Tô-ác, 20 con của Xúp, con của En-ca-na, con của Ma-khát, con của A-ma-xai, 21 con của En-ca-na, con của Giô-en, con của A-dác-gia, con của Xơ-phan-gia, 22 con của Ta-khát, con của Át-xia, con của Ép-gia-xáp, con của Cô-rắc, 23 con của Gít-ha, con của Cơ-hát, con của Lê-vi, con của Ít-ra-en.

24 Em ông Hê-man là A-xáp đứng bên phải ông. A-xáp, con của Be-réc-gia-hu, con của Sim-a, 25 con của Mi-kha-ên, con của Ba-a-xê-gia, con của Man-ki-gia, 26 con của Ét-ni, con của De-rác, con của A-đa-gia, 27 con của Ê-than, con của Dim-ma, con của Sim-y, 28 con của Gia-khát, con của Ghéc-sôm, con của Lê-vi.

29 Các con ông Mơ-ra-ri, anh em của họ, đứng bên trái : Ê-than, con của Ki-si, con của Áp-đi, con của Ma-lúc, 30 con của Kha-sáp-gia, con của A-mát-gia, con của Khin-ki-gia, 31 con của Am-xi, con của Ba-ni, con của Se-me, 32 con của Mác-li, con của Mu-si, con của Mơ-ra-ri, con của Lê-vi.

33 Các thầy Lê-vi, anh em của họ, là những người được dâng hiến để thi hành mọi dịch vụ Nhà Tạm, Đền Thờ của Thiên Chúa. 34 Ông A-ha-ron và các con là những người đốt lễ vật trên bàn thờ toàn thiêu và trên bàn thờ dâng hương ; họ lo chu toàn mọi tác vụ cực thánh và cử hành nghi thức xá tội cho Ít-ra-en, theo đúng mọi điều ông Mô-sê, tôi tớ của Thiên Chúa đã truyền.

35 Đây là các con ông A-ha-ron : E-la-da con ông, Pin-khát con ông, A-vi-su-a con ông, 36 Búc-ki con ông, Út-di con ông, Dơ-rác-gia con ông, 37 Mơ-ra-giốt con ông, A-mác-gia con ông, A-khi-túp con ông, 38 Xa-đốc con ông, A-khi-ma-át con ông.

39 Đây là nơi cư trú của họ, theo ranh giới các trại dành cho họ :

Vì con cháu ông A-ha-ron thuộc thị tộc Cơ-hát được phần nhất, 40 nên người ta cho họ vùng Khép-rôn trong đất Giu-đa, cùng với các đồng cỏ chung quanh. 41 Đồng ruộng của thành ấy và các thôn làng thì người ta cho ông Ca-lếp con ông Giơ-phun-ne. 42 Nhưng người ta lại cho con cháu ông A-ha-ron các thành tị nạn là Khép-rôn và Líp-na với các đồng cỏ, Giát-tia, Ét-tơ-mô-a với các đồng cỏ, 43 Khi-lết với các đồng cỏ, Đơ-via với các đồng cỏ, 44 A-san với các đồng cỏ, Bết Se-mét với các đồng cỏ. 45 Còn chi tộc Ben-gia-min thì người ta cho họ : Ghe-va với các đồng cỏ, A-le-mét với các đồng cỏ, A-na-tốt với các đồng cỏ. Tất cả các thành của họ là mười ba, tính theo số các thị tộc của họ.

46 Còn những người con khác của ông Cơ-hát thì bắt thăm được mười thành lấy từ chi tộc Ép-ra-im, chi tộc Đan và nửa chi tộc Mơ-na-se. 47 Các con ông Ghéc-sôm, theo các thị tộc của họ, được mười ba thành lấy của chi tộc Ít-xa-kha, chi tộc A-se, chi tộc Náp-ta-li, chi tộc Mơ-na-se ở Ba-san. 48 Các con ông Mơ-ra-ri, theo các thị tộc của họ, rút thăm được mười hai thành lấy của chi tộc Rưu-vên, chi tộc Gát, chi tộc Dơ-vu-lun. 49 . Con cái Ít-ra-en đã cấp cho các người Lê-vi các thành cùng với các đồng cỏ.

50 Người ta cũng rút thăm trao cho họ các thành lấy của chi tộc con cái Giu-đa, chi tộc con cái Si-mê-ôn, chi tộc con cái Ben-gia-min. Họ đã lấy tên mình mà đặt cho các thành ấy.

51 Một số các thị tộc con cái Cơ-hát đã rút thăm được các thành lấy của chi tộc Ép-ra-im. 52 Người ta cấp cho họ các thành trú ẩn sau đây : Si-khem với các đồng cỏ trong vùng núi Ép-ra-im, Ghe-de với các đồng cỏ, 53 Gióc-mơ-am với các đồng cỏ, Bết Khô-rôn với các đồng cỏ, 54 Ai-gia-lôn với các đồng cỏ, Gát Rim-môn với các đồng cỏ. 55 Và lấy thành A-ne với các đồng cỏ, và Bi-lơ-am với các đồng cỏ của một nửa chi tộc Mơ-na-se, để trao cho thị tộc những người con còn lại của ông Cơ-hát.

56 Phần dành cho các con ông Ghéc-sôm : lấy của các thị tộc thuộc một nửa chi tộc Mơ-na-se là Gô-lan ở Ba-san với các đồng cỏ, Át-ta-rốt với các đồng cỏ ; 57 lấy của chi tộc Ít-xa-kha là Ke-đét với các đồng cỏ, Đa-vơ-rát với các đồng cỏ, 58 Ra-mốt với các đồng cỏ, A-nêm với các đồng cỏ ; 59 lấy của chi tộc A-se là Ma-san với các đồng cỏ, Áp-đôn với các đồng cỏ, 60 Khu-cốc với các đồng cỏ, Rơ-khốp với các đồng cỏ ; 61 lấy của chi tộc Náp-ta-li là Ke-đét ở Ga-li-lê với các đồng cỏ, Kham-môn với các đồng cỏ, Kia-giát-tha-gim với các đồng cỏ.

62 Phần dành cho các người con khác của ông Mơ-ra-ri : lấy của chi tộc Dơ-vu-lun là Rim-môn với các đồng cỏ, Ta-bo với các đồng cỏ. 63 Từ bên kia sông Gio-đan, gần Giê-ri-khô, phía đông sông Gio-đan ; lấy của chi tộc Rưu-vên là Be-xe trong sa mạc với các đồng cỏ, Gia-hát với các đồng cỏ, 64 Cơ-đê-mốt với các đồng cỏ, Mê-pha-át với các đồng cỏ, 65 lấy của chi tộc Gát là Ra-mốt tại Ga-la-át với các đồng cỏ, Ma-kha-na-gim với các đồng cỏ, 66 Khét-bôn với các đồng cỏ, Gia-de với các đồng cỏ.

CHƯƠNG 7

1 Các con ông Ít-xa-kha là : Tô-la, Pu-a, Gia-súp, Sim-rôn : tất cả là bốn người.

2 Các con ông Tô-la là : Út-di, Rơ-pha-gia, Giơ-ri-ên, Giác-mai, Gíp-xam, Sơ-mu-ên. Họ là những người đứng đầu các gia tộc tổ tiên ông Tô-la, những anh hùng dũng sĩ theo dòng tộc của họ. Thời vua Đa-vít, số người của họ là hai mươi hai ngàn sáu trăm.

3 Con của Út-di là Gít-rác-gia. Con của Gít-rác-gia là Mi-kha-ên, Ô-vát-gia, Giô-en, Gít-si-gia : tất cả là năm người lãnh đạo. 4 Các ông này, thuộc dòng họ, theo gia tộc tổ tiên mình, chịu trách nhiệm về các đơn vị được võ trang để chiến đấu, gồm ba mươi sáu ngàn người, vì họ là những người lắm vợ nhiều con. 5 Anh em của họ là những anh hùng dũng sĩ thuộc mọi thị tộc Ít-xa-kha, tổng số được kiểm tra là tám mươi bảy ngàn người.

6 Các con ông Ben-gia-min là : Be-la, Be-khe, Giơ-đi-a-ên : tất cả là ba người.

7 Các con ông Be-la là : Ét-bôn, Út-di, Út-di-ên, Giơ-ri-mốt, I-ri : năm anh hùng dũng sĩ, đứng đầu các gia tộc tổ tiên gồm hai mươi hai ngàn không trăm ba mươi bốn người.

8 Các con ông Be-khe là : Dơ-mi-ra, Giô-át, Ê-li-e-de, En-giô-ê-nai, Om-ri, Giơ-rê-mốt, A-vi-gia, A-na-thốt, A-le-mét. Tất cả những người này đều là con ông Be-khe, 9 các anh hùng dũng sĩ, đứng đầu các gia tộc tổ tiên của họ, được đăng bộ theo các dòng họ, là hai mươi ngàn hai trăm người.

10 Con của Giơ-đi-a-ên là : Bin-han ; các con của Bin-han là : Giơ-út, Ben-gia-min, Ê-hút, Cơ-na-a-na, Dê-than, Tác-sít, A-khi-sa-kha. 11 Tất cả những người này đều là con ông Giơ-đi-a-ên, những anh hùng dũng sĩ, đứng đầu các gia tộc gồm mười bảy ngàn người đã nhập ngũ để sẵn sàng chiến đấu.

12 Súp-pim và Khúp-pim là con của Ia, Khu-sim con của A-khe. Ngành ông Náp-ta-li (Dan 26:48-50; Sa 46:24)

13 Các con ông Náp-ta-li là : Gia-kha-xi-ên, Gu-ni, Giê-xe, Sa-lum. Đó là các con bà Bin-ha.

14 Các con ông Mơ-na-se là Át-ri-ên, do nàng tỳ thiếp người A-ram của ông sinh ra, bà còn sinh Ma-khia, cha của Ga-la-át. 15 Ông Ma-khia cưới vợ cho Khúp-pim và Súp-pim. Em gái ông tên là Ma-a-kha.

Tên người con thứ là Xơ-lóp-khát. Ông Xơ-lóp-khát chỉ có con gái.

16 Bà Ma-a-kha, vợ ông Ma-khia, sinh con trai và đặt tên là Pe-rét ; người em của ông này là Se-rét và các con ông là U-lam và Re-kem.

17 Con của U-lam là Bơ-đan. Đó là các con của Ga-la-át, con của Ma-khia, con của Mơ-na-se.

Em gái ông là bà Mô-le-khét. Bà sinh ra Ít-hốt, A-vi-e-de và Mác-la.

19 Các con ông Sơ-mi-đa là : A-khơ-gian, Se-khem, Lích-khi và A-ni-am.

20 Các con ông Ép-ra-im là Su-the-lác, Be-rét con ông, Ta-khát con ông, En-a-đa con ông, Ta-khát con ông, 21 Da-vát con ông, Su-the-lác con ông, Ê-de, En-át.

Những người Gát, dân địa phương ở đó, tàn sát họ, vì họ đã xuống cướp bóc đàn vật của chúng. 22 Ông Ép-ra-im, cha của họ, đã than khóc họ lâu ngày, và anh em ông đã đến yên ủi ông. 23 Bấy giờ ông đến với vợ ông ; bà mang thai và sinh con. Ông đặt tên cho con là Bơ-ri-a, vì lúc ấy gia đình ông gặp điều bất hạnh. 24 Con gái ông là Se-e-ra, người đã xây thành Bết Khô-rôn Hạ cũng như Thượng và thành Út-dên Se-e-ra.

25 Re-phác là con ông, Re-sép con ông, Te-lác con ông, Ta-khan con ông, 26 La-đan con ông, A-mi-hút con ông, Ê-li-sa-ma con ông, 27 Nun con ông, Giô-suê con ông. 28 Đất đai và gia cư của họ là Bết Ên và vùng phụ cận ; phía đông là Na-a-ran ; phía tây là Ghe-de và vùng phụ cận. 29 Nằm trong tay con cái Mơ-na-se là : Bết San và vùng phụ cận, Ta-nác và vùng phụ cận, Mơ-ghít-đô và vùng phụ cận, Đo và vùng phụ cận. Con cháu ông Giu-se, con ông Ít-ra-en cư ngụ tại các nơi ấy.

30 Các con ông A-se là Gim-na, Gít-va, Gít-vi, Bơ-ri-a và Xe-rác, em gái họ.

31 Các con ông Bơ-ri-a là Khe-ve và Man-ki-ên. Ông này là cha của Bia-da-gít. 32 Ông Khe-ve sinh Giáp-lết, Sô-me, Khô-tam và Su-a, em gái họ. 33 Các con ông Giáp-lết là Pa-xác, Bin-han, A-vát. Đó là các con ông Giáp-lết.

34 Các con ông Sô-me, em ông Giáp-lết, là Rô-ga, Giơ-khúp-ba, A-ram.

35 Các con ông Hê-lem, em ông, là : Xô-phác, Gim-na, Sê-lét, A-man. 36 Các con ông Xô-phác là : Xu-ác, Khác-ne-phe, Su-an, Bê-ri, Gim-ra, 37 Be-xe, Hốt, Sam-ma, Sin-sa, Gít-ran, Bơ-ê-ra. 38 Các con ông Ghe-the là : Giơ-phun-ne, Pít-pa, Ơ-ra.

39 Các con ông U-la là : A-rác, Khan-ni-ên, Rít-gia.

40 Tất cả những người đó đều là các con ông A-se, đứng đầu các gia tộc tổ tiên ; họ là những tinh binh, anh hùng dũng sĩ, đứng đầu các vương công, được đăng bộ vào quân ngũ để chiến đấu, tổng số là hai mươi sáu ngàn người.

CHƯƠNG 8

1 Ông Ben-gia-min sinh con đầu lòng là Be-la, con thứ là Át-bên, con thứ ba là Ác-rác, 2 con thứ tư là Nô-khác, con thứ năm là Ra-pha. 3 Ông Be-la có những người con sau đây : Át-đa, Ghê-ra, cha của Ê-hút, 4 A-vi-su-a, Na-a-man, A-khô-ác, 5 Ghê-ra, Sơ-phu-phan, Khu-ram.

6 Đây là các con ông Ê-hút, những người đứng đầu các gia tộc tổ tiên của dân cư Ghe-va, và đã dẫn họ đi lưu đày tại Ma-na-khát : 7 Na-a-man, A-khi-gia, Ghê-ra là người dẫn họ đi lưu đày ; ông đã sinh ra Út-da và A-khi-khút.

8 Ông Sa-kha-ra-gim sinh con cái trong cánh đồng Mô-áp, sau khi đã rẫy các bà vợ của ông là Khu-sim và Ba-a-ra. 9 Với bà vợ mới, ông sinh Giô-váp, Xíp-gia, Mê-sa, Man-cam, 10 Giơ-úc, Xác-gia, Mia-ma. Đó là các con ông, những người đứng đầu các gia tộc.

11 Với bà Khu-sim, ông sinh A-vi-túp, En-pa-an. 12 Các con ông En-pa-an là Ê-ve, Mi-sơ-am, Se-mét ; ông này đã xây thành Ô-nô, thành Lốt và vùng phụ cận.

13 Ông Bơ-ri-a và ông Se-ma là những người đứng đầu các gia tộc tại Ai-gia-lôn. Chính họ đã làm cho dân cư Gát phải trốn chạy.

14 Anh em của ông là Sa-sắc.Giơ-rê-mốt, 15 Dơ-vát-gia, A-rát, Ê-đe, 16 Mi-kha-ên, Gít-pa và Giô-kha là các con của Bơ-ri-a.

17 Dơ-vát-gia, Mơ-su-lam, Khít-ki, Khe-ve, 18 Gít-mơ-rai, Gít-li-a và Giô-váp là các con của En-pa-an. 19 Gia-kim, Dích-ri, Dáp-đi, 20 Ê-li-e-nai, Xi-lơ-thai, Ê-li-ên, 21 A-đa-gia, Bơ-ra-gia và Sim-rát là các con của Sim-y.

22 Gít-pan, Ê-ve, Ê-li-ên, 23 Áp-đôn, Dích-ri, Kha-nan, 24 Kha-nan-gia, Ê-lam, An-thô-thi-gia, 25 Gíp-đơ-gia và Pơ-nu-ên là các con của Sa-sắc.

26 Sam-sơ-rai, Sơ-khác-gia, A-than-gia, 27 Gia-a-rét-gia, Ê-li-gia và Dích-ri là các con của Giơ-rô-kham. 28 Đó là những người đứng đầu các gia tộc theo dòng họ của mình. Họ cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem.

29 Cư ngụ tại Ghíp-ôn có : Giơ-y-ên cha của Ghíp-ôn ; vợ ông tên là Ma-a-kha, 30 con đầu lòng của ông là Áp-đôn, rồi Xua, Kít, Ba-an, Na-đáp, 31 Gơ-đo, Ác-giô, De-khe, Mích-lốt. 32 Ông Mích-lốt sinh Sim-a ; cả các người này nữa, cũng như các anh em họ, đều cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem cùng với anh em họ.

33 Ông Ne sinh ra Kít, Kít sinh Sa-un, Sa-un sinh Giơ-hô-na-than, Man-ki Su-a, A-vi-na-đáp, Ét-ba-an. 34 Con của Giơ-hô-na-than là Mơ-ríp-ba-an ; Mơ-ríp-ba-an sinh Mi-kha. 35 Các con của Mi-kha là : Pi-thôn, Me-léc, Ta-rê-a, A-khát. 36 A-khát sinh Giơ-hô-át-đa, Giơ-hô-át-đa sinh A-le-mét, Át-ma-vét, Dim-ri. Dim-ri sinh Mô-xa, 37 Mô-xa sinh Bin-a.

Ra-pha con ông, En-a-xa con ông, A-xên con ông.

38 Ông A-xên được sáu người con trai. Đây là tên của họ : Át-ri-cam con đầu lòng, rồi Gít-ma-ên, Sơ-ác-gia, Ô-vát-gia, Kha-nan. Tất cả những người đó đều là con ông A-xên.

39 Các con ông Ê-séc, em ông, là : U-lam con đầu lòng, Giơ-út con thứ, Ê-li-phe-lét con thứ ba. 40 Các con của U-lam là những người dũng cảm, biết giương cung và đều đông con nhiều cháu, đến một trăm năm mươi người. Tất cả những người ấy là con cháu ông Ben-gia-min.

CHƯƠNG 9

1 Toàn dân Ít-ra-en đã được đăng bộ và ghi vào sách các vua Ít-ra-en và Giu-đa ; họ bị đày sang Ba-by-lon vì đã làm những điều gian ác. 2 Những người đầu tiên được cư ngụ trên các phần đất gia nghiệp trong các thành của họ là những người Ít-ra-en, các tư tế, các thầy Lê-vi và những người phục vụ Đền Thờ. 3 Cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem là một số con cháu Giu-đa, con cháu Ben-gia-min, con cháu Ép-ra-im và Mơ-na-se.

4 Ông U-thai con của A-mi-hút, con của Om-ri, con của Im-ri, con của Ba-ni trong số con cháu ông Pe-rét, con ông Giu-đa. 5 Trong số các người Si-lô có A-xa-gia con đầu lòng và các con ông. 6 Trong số con cháu ông De-rác có Giơ-u-ên và các anh em ông ; tất cả là sáu trăm chín mươi người.

7 Trong số con cháu Ben-gia-min có Xa-lu con của Mơ-su-lam, con của Hô-đát-gia, con của Ha Xơ-nu-a ; 8 Gíp-nơ-gia con của Giơ-rô-kham ; Ê-la con của Út-di, con của Mích-ri ; Mơ-su-lam con của Sơ-phát-gia, con của Rơ-u-ên, con của Gíp-ni-gia. 9 Anh em của họ, tính theo gia phả, là chín trăm năm mươi sáu người. Tất cả đều là những người đứng đầu các gia tộc tổ tiên họ.

10 Trong số các tư tế có Giơ-đa-gia, Giơ-hô-gia-ríp, Gia-khin ; 11 A-dác-gia con của Khin-ki-gia, con của Mơ-su-lam, con của Xa-đốc, con của Mơ-ra-giốt, con của A-khi-túp quản đốc Nhà Thiên Chúa. 12 A-đa-gia con của Giơ-rô-kham, con của Pát-khua, con của Man-ki-gia, Ma-xai con của A-đi-ên, con của Giác-dê-ra, con của Mơ-su-lam, con của Mơ-si-lê-mít, con của Im-me. 13 Họ có anh em đứng đầu các gia tộc tổ tiên họ là một ngàn bảy trăm sáu mươi anh hùng dũng sĩ được chỉ định phục dịch Nhà Thiên Chúa.

14 Trong các thầy Lê-vi có Sơ-ma-gia, con của Kha-súp, con của Át-ri-cam, con của Kha-sáp-gia thuộc hàng con cháu ông Mơ-ra-ri ; 15 Bác-bắc-ca, Khe-rét, Ga-lan, Mát-tan-gia, con của Mi-kha, con của Dích-ri, con của A-xáp ; 16 Ô-vát-gia con của Sơ-ma-gia, con của Ga-lan, con của Giơ-đu-thun ; Be-rét-gia, con của A-xa, con của En-ca-na là người cư ngụ trong các thôn làng của người Nơ-tô-pha.

17 Các người giữ cửa là Sa-lum, Ắc-cúp, Tan-môn, A-khi-man. Ông Sa-lum, anh em của họ, là người đứng đầu. 18 Cho đến bây giờ họ còn túc trực tại cửa ngọ môn, bên phía đông. Họ là những người giữ cửa các doanh trại con cháu Lê-vi. 19 Ông Sa-lum con của Cô-rê, con của Ép-gia-xáp, con của Cô-rắc và các anh em cùng thuộc gia đình Cô-rắc, thì lo công việc phục dịch của người giữ cửa Lều, cũng như cha ông họ có trách nhiệm giữ lối vào doanh trại ĐỨC CHÚA. 20 Ông Pin-khát con của E-la-da xưa kia đã từng là quản đốc của họ -xin ĐỨC CHÚA ở với ông- 21 cũng như ông Dơ-khác-gia con ông Mơ-se-lem-gia đã từng là người giữ cửa vào Lều Hội Ngộ. 22 Tổng số những người được tuyển chọn để canh cửa là hai trăm mười hai người. Những người này được đăng bộ tại các thôn làng của họ, nhưng đã được vua Đa-vít và thầy thị kiến Sa-mu-en cắt đặt vĩnh viễn. 23 Những người này và con cháu họ có nhiệm vụ canh giữ Nhà ĐỨC CHÚA, tức Nhà Lều. 24 Có các người giữ cửa tại bốn hướng : đông, tây, nam, bắc. 25 Anh em của họ, những người cư ngụ tại các thôn làng, thì lâu lâu phải đến với họ một tuần, 26 vì có bốn người cai cửa thường trực ; họ đều là những thầy Lê-vi được chỉ định trông coi các phòng ốc và các kho bạc Nhà Thiên Chúa. 27 Họ nghỉ đêm chung quanh Nhà Thiên Chúa, vì họ phải trông coi Nhà ấy, và sáng nào cũng phải mở cửa.

28 Trong số họ có mấy người được chỉ định trông coi các đồ thờ ; họ phải đếm những thứ này lúc đưa vô đưa ra. 29 Một số khác được chỉ định trông coi các vật dụng, tất cả đồ thánh, tinh bột, rượu, dầu, hương và thuốc thơm. 30 Trong số con cái hàng tư tế có người lo pha chế dầu thơm.

31 Ông Mát-tít-gia, một thầy Lê-vi, con đầu lòng ông Sa-lum, thuộc gia đình Cô-rắc, có nhiệm vụ thường xuyên nướng bánh trên vỉ. 32 Trong số các anh em của họ thuộc gia đình Cơ-hát, có người lo dọn bánh tiến các ngày sa-bát.

33 Đây là các ca sĩ, những người đứng đầu các gia đình Lê-vi, được ở trong các phòng ốc, được miễn mọi việc khác, vì ngày đêm họ phải lo phận vụ của họ.

34 Những người đó là những người đứng đầu các gia đình Lê-vi, đứng đầu theo dòng họ của mình ; họ cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem.

35 Cư ngụ tại Ghíp-ôn có ông tổ của dòng họ Ghíp-ôn là Giơ-y-ên, với người vợ là Ma-a-kha ; 36 con đầu lòng của ông là Áp-đôn, rồi Xua, Kít, Ba-an, Ne, Na-đáp, 37 Gơ-đo, Ác-giô, Dơ-khác-gia, Mích-lốt. 38 Mích-lốt sinh Sim-am ; cả các người này nữa cũng như anh em của họ đều cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem cùng với anh em mình.

39 Ông Ne sinh Kít, Kít sinh Sa-un, Sa-un sinh Giơ-hô-na-than, Man-ki Su-a, A-vi-na-đáp, Ét-ba-an. 40 Con Giơ-hô-na-than là Mơ-ríp-ba-an ; Mơ-ríp-ba-an sinh Mi-kha. 41 Các con của Mi-kha là : Pi-thôn, Me-léc, Tác-rê-a. 42 A-khát sinh Gia-ra, Gia-ra sinh A-le-mét, Át-ma-vét, Dim-ri ; Dim-ri sinh Mô-xa. 43 Mô-xa sinh Bin-a.

Rơ-pha-gia con ông, En-a-xa con ông, A-xên con ông.

44 A-xên được sáu người con có tên như sau : Át-ri-cam con đầu lòng, rồi Gít-ma-ên, Sơ-ác-gia, Ô-vát-gia, Kha-nan. Những người đó đều là con ông A-xên.

CHƯƠNG 10

1 Người Phi-li-tinh giao chiến với Ít-ra-en. Người Ít-ra-en chạy trốn trước mặt người Phi-li-tinh và bị tử thương ngã gục trên núi Ghin-bô-a. 2 Người Phi-li-tinh bám sát vua Sa-un và các con trai vua ; và chúng giết ông Giô-na-than, ông A-vi-na-đáp và ông Man-ki Su-a, các con vua Sa-un. 3 Áp lực của mặt trận dồn về phía vua Sa-un. Lính bắn cung nhận ra vua. Vua rất run sợ khi thấy lính bắn cung. 4 Vua Sa-un bảo người lính hầu : "Rút gươm ra và đâm ta đi, kẻo bọn không cắt bì ấy đến đâm ta và ngạo ta." Nhưng người lính hầu không dám vì quá sợ. Vua Sa-un mới lấy gươm ra và lao mình vào mũi gươm. 5 Người lính hầu thấy vua đã chết, cũng lao mình vào mũi gươm của anh ta và chết theo vua. 6 Thế là vua Sa-un với ba con trai và mọi người của vua cùng chết một lúc. 7 Người Ít-ra-en ở bên kia thung lũng thấy người Ít-ra-en chạy trốn, và vua Sa-un cùng các con của vua đã chết, thì bỏ các thành của họ và chạy trốn. Người Phi-li-tinh đến và lập cư ở đó.

8 Ngày hôm sau người Phi-li-tinh đến lột các xác chết, thì tìm thấy vua Sa-un và các người con trai nằm trên núi Ghin-bô-a. 9 Chúng chặt đầu vua và tước võ khí của vua. Rồi chúng sai người rảo quanh khắp xứ Phi-li-tinh, để báo tin mừng cho các tượng thần của chúng và cho dân. 10 Chúng đặt võ khí của vua Sa-un trong đền các thần của chúng, còn sọ của vua thì chúng treo trong đền Đa-gôn.

11 Khi dân thành Gia-vết miền Ga-la-át nghe biết cách người Phi-li-tinh đã đối xử với vua Sa-un, 12 thì tất cả các dũng sĩ lên đường, lấy xác vua Sa-un và xác các con vua đưa về Gia-vết ; họ chôn hài cốt dưới cây tùng tại Gia-vết, rồi ăn chay bảy ngày.

13 Vua Sa-un chết vì đã thất trung với ĐỨC CHÚA, chẳng tuân giữ lời ĐỨC CHÚA truyền, lại còn kiếm một mụ đồng bóng mà thỉnh vấn nữa. 14 Ông đã không thỉnh vấn ĐỨC CHÚA nên Người đã khiến ông phải chết và đã chuyển trao vương quyền cho ông Đa-vít, con ông Gie-sê.

DẪN NHẬP

>> Dẫn Nhập Cựu Ước

>> Dẫn Nhập Tân Ước

MỤC LỤC

 

    © 2010 Đền Thánh Mẹ La Vang Las Vegas I All Rights Reserved I Designed by OLIUDAI