PHẦN THỨ NHẤT: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

KINH TIN KÍNH

 KINH TIN KÍNH CÁC TÔNG ÐỒ

KINH TIN KÍNH CÔNG ÐỒNG NIXÊ CON-TAN-TI-NÔ-PÔ-LI

* Tôi tin kính Ðức Chúa Trời

Tôi tin kính một Thiên Chúa duy nhất

* Là Cha phép tắc vô cùng

Là Chúa Cha toàn năng,

* dựng nên trời đất

 Ðấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình

* Tôi tin kính Ðức Giê-su Ki-tô

Tôi tin kính một Chúa duy nhất

* là Con Một Ðức Chúa Cha

là Ðức Giê-su Ki-tô,

* cùng là Chúa chúng tôi

Con Một Thiên Chúa,

 

Sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời :

 

Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa;

 

Ánh sáng bởi ánh sáng;

 

Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật

 

được sinh ra mà không phải được tạo thành.

 

Ðồng bản tính với Chúa Cha:

 

Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.

 

Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi

 

Người đã từ trời xuống thế;

* Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai

Bởi phép Chúa Thánh Thần

* Sinh bởi bà Ma-ri-a đồng trinh,

Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a và đã làm người.

* Chịu nạn đời quan Phong-Xi-ô Phi-la-tô

Vì chúng tôi Người chịu đóng đinh vào thập giá dưới thời Phong-xi-ô Phi-la-tô

* Chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác,

Người chịu khổ hình và mai táng 

* Xuống ngục tổ tông.

 

* Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại,

Ngày thứ ba Người sống lại đúng như lời Thánh Kinh,

* lên trời,

Người lên trời

* ngự bên hữu Ðức Chúa Cha phép tắc vô cùng

ngự bên hữu Chúa Cha

* Ngày sau bởi trời lại xuống

và Người sẽ lại đến trong vinh quang

* phán xét kẻ sống và kẻ chết

để phán xét kẻ sống và kẻ chết

 

triều đại Người sẽ vô cùng vô tận.

* Tôi tin kính Ðức Chúa Thánh Thần,

Tôi tin kính Chúa Thánh Thần

 

Người là Chúa và là Ðấng ban sự sống;

 

Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con.

 

Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con

 

Người đã dùng các ngôn sứ mà phán dạy.

* Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này,

Tôi tin có một Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền

* Các thánh thông công

 

* Tôi tin phép tha tội

Tôi tuyên xưng có một phép rửa duy nhất để tha tội

* Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại

Tôi đợi trông ngày kẻ chết sống lại

* tôi tin hằng sống vậy

và sự sống đời sau.

* A-men

 A-men

 

ÐOẠN THỨ HAI: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN KITÔ GIÁO
NHỮNG BẢN TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN


185 (174, 949)  Nói " Tôi tin" nghĩa là "tôi nhập cuộc vào những điều chúng tôi tin". Sự thông hiệp trong đức tin cần có một ngôn ngữ chung của đức tin, làm chuẩn mực cho tất cả và kết hợp mọi người khi cùng tuyên xưng đức tin.

186  Ngay từ đầu, Hội Thánh của các tông đồ đã diễn đạt và thông truyền đức tin của mình trong những công thức ngắn và chuẩn mực cho mọi người (x. Rm 10, 9; 1Cr 15, 3-5; v. v.). Chỉ ít lâu sau, Hội Thánh cũng muốn thu thập những điểm cốt yếu của đức tin vào những bản tóm lược có hệ thống, phân chia thành điều khoản, chủ yếu dành cho những người chuẩn bị lãnh Bí tích Thánh Tẩy.

Bản tổng hợp đức tin này được soạn thảo không dựa theo ý kiến loài người, nhưng dựa trên những giáo lý quan trọng nhất của toàn bộ Thánh Kinh, để tạo nên một giáo huấn đức tin duy nhất. Như hạt giống mang mầm sống của cả một cây lớn, bản tóm lược đức tin ấy chứa đựng trong ít lời, toàn bộ tri thức về lòng đạo chân thật của Cựu Ước và Tân Ước(Giáo lý Th. Xy-ri-lô thành Giê-ru-sa-lem. 5, 12).

187 Chúng ta gọi các bản tổng hợp đức tin ấy là bản "tuyên xưng đức tin", vì chúng tóm lược đức tin mà các Kitô hữu tuyên xưng; gọi là Kinh "Tin Kính" vì thường bắt đầu bằng câu "Tôi tin kính", có khi còn gọi là bản "tín biểu" nữa.

188  " Tín biểu " là chữ tắt của "biểu tượng đức tin". Chúng ta dùng chữ "biểu, biểu tượng" được dịch từ "Symbolon" của tiếng Hi Lạp có nghĩa là phân nửa một vật được bẻ ra (chẳng hạn: đồng tiền bẻ đôi) mà người ta xuất trình như một dấu hiệu để nhận ra nhau. "Tín biểu" là một dấu hiệu để các tín hữu nhận ra nhau, hiệp thông với nhau. "Symbolon" cũng có nghĩa là một sưu tập, hay là bản tóm lược. Do đó Tín biểu là sưu tập những chân lý chính yếu của đức tin và trở thành điểm qui chiếu thứ nhất và căn bản của huấn giáo.

189 1237, 232  Lời "tuyên xưng đức tin" đầu tiên được thực hiện khi nhận phép rửa tội. "Tín biểu" trước hết là tín biểu của Bí tích Thánh Tẩy. Vì Bí tích Thánh Tẩy được ban "nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (Mt 28, 19) nên những chân lý của đức tin tuyên xưng trong phép rửa tội, được sắp xếp qui về Ba Ngôi Thiên Chúa.

190  Do đó Tín biểu được chia làm ba phần : "Trước hết, nói về Thiên Chúa Ngôi Nhất và công trình sáng tạo kỳ diệu; kế đến Thiên Chúa Ngôi Hai và mầu nhiệm Cứu chuộc con người; sau hết Thiên Chúa Ngôi Ba, cội nguồn và nguyên lý thánh hóa chúng ta" (Giáo lý Rô-ma 1, 1, 3.). Ðó là "ba chương của ấn tín (rửa tội)" (Th. I-rê nê , Dem 100.).
191 "Ba phần đó tuy khác biệt nhưng nối kết với nhau. Dựa theo các Giáo Phụ chúng ta gọi đó là các tín điều phải tin. Như thân thể con người gồm nhiều chi thể, bản tuyên xưng đức tin gồm những chân lý chúng ta phải tin từng điều một, được gọi là "tín điều". (Sách Giáo lý Rô-ma 1, 1, 4.) Theo một truyền thống xưa, được thánh Am-rô-si-ô xác nhận, người ta quen liệt kê mười hai tín điều của kinh Tin Kính, dựa theo số các tông đồ để tượng trưng cho toàn bộ đức tin tông truyền(x. kinh Tin Kính 8).

192  Suốt chiều dài lịch sư<150), để đáp ứng những nhu cầu các thời đại khác nhau, chúng ta có nhiều bản tuyên xưng đức tin hay tín biểu : những bản tín biểu của các Giáo Hội thời các tông đồ và thời cổ (DS 1-64), bản tín biểu "Quicumque" còn gọi là của thánh A-ta-na-si-ô (DS 75-76), những bản tín biểu của một số Công đồng Tô-lê-đô (DS 525-541), La-tê-ra-nô (DS 800-802), Lyon (Ds 851-861), Tren-tô (DS 1862-1870) hay của một số Giáo Hoàng như bản Tuyên Xưng của Ðức Giáo Hoàng Ða-ma-si-ô (DS 71-72), bản "Kinh Tin Kính Của Dân Thiên Chúa"(SPF) của Ðức Phao-Lô VI (1968).

193  Không một tín biểu nào xuất phát từ những giai đoạn khác nhau của đời sống Hội Thánh có thể bị coi là lỗi thời và vô ích. Các bản này giúp chúng ta ngày nay thấu hiểu và đào sâu đức tin ngàn đời của Hội Thánh qua các bản tóm lược khác nhau ấy.

Trong tất cả các tín biểu, có hai bản chiếm một địa vị rất đặc biệt trong đời sống Hội Thánh:

194  Kinh Tin Kính của các Tông đồ : gọi như thế, vì bản này được xem như bản tóm lược trung thành đức tin của các Tông đồ. Ðây là "tín biểu" rất cổ, được Giáo Hội Rô-ma sử dụng trong Bí tích Thánh Tẩy. Hội Thánh coi trọng bản này, vì "đây là tín biểu được bảo tồn trong Giáo Hội Rô-ma, nơi thánh Phê-rô, thủ lãnh các tông đồ, đã đặt tông tòa và đã đem lại sự nhất trí trong toàn Hội Thánh" (Th Am-rô-xi-ô, kinh Tin Kính 7).


195 (242, 245 465) Kinh Tin Kính Công đồng Ni-xê-a Con-tan-ti-no- po-liđược coi trọng vì phát xuất từ hai Công đồng đầu tiên (325 và 381). Cho đến nay, bản này vẫn còn là bản chung cho tất cả các Giáo Hội lớn của Phương Ðông và Phương Tây.

196 Sách Giáo Lý này trình bày đức tin theo Kinh Tin Kính của các tông đồ, vì kinh này được kể là "bản giáo lý Rô-ma cổ xưa nhất". Tuy nhiên, để bổ túc, chúng tôi sẽ luôn tham chiếu Kinh Tin Kính của công đồng Ni-xê-a Con-tan-ti-no-po-li thường minh bạch và chi tiết hơn.

197 (1064) Như trong ngày lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, khi trọn cuộc sống của chúng ta được đưa vào "qui luật đạo lý" (Rm 6, 17), chúng ta hãyđón nhận bản Kinh Tin Kính, để nhờ đó chúng ta được sống. Khiđọc kinh "Tin kính" với lòng tin, chúng ta được thông hiệp với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và cũng được thông hiệp với toàn thể Hội Thánh. Chính Hội Thánh truyền đạt đức tin cho chúng ta, và (chính trong lòng) Hội Thánh mà chúng ta tin.

1274 Kinh Tin Kính này là dấu ấn tín thiêng liêng, là điều tâm niệm, là người canh giữ luôn luôn hiện diện; chắc chắn đó là kho tàng của linh hồn chúng ta (Th. Am-rô-si-ô, kinh Tin Kính 1).

______________________________________

CHƯƠNG MỘT - MỤC 1

TIẾT 2: CHÚA CHA

I. "NHÂN DANH CHÚA CHA VÀ CHÚA CON VÀ CHÚA THÁNH THẦN

232 (189, 1223)  Người Ki-tô hữu được rửa tội "nhân danhChúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (Mt 28, 19). Trước khi lãnh nhận bí tích, họ phải trả lời 3 lần "Tôi tin" để đáp lại những câu thẩm vấn về đức tin vào Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. "Ðức tin của mọi Kitô hữu đều dựa trên mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi" (Th. Césaire d'Arles, Tuyên xưng đức tin).

233  Người Ki-tô hữu được rửa tội "nhân danh một Thiên Chúa" là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, chứ không phải "nhân danh ba ngôi vị" riêng lẻ (x. Tuyên xưng đức tin của Giáo hoàng Vigilô năm 552: DS 415). Vì chỉ có một Thiên Chúa là Cha toàn năng và Con duy nhất Người và Thánh Thần : Ðó là Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.

234 (2157 90 1449)  Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trọng tâm của đức tin và đời sống ki-tô hữu. Ðây là mầu nhiệm về đời sống nội tại của Thiên Chúa, cội nguồn phát sinh mọi mầu nhiệm khác của đức tin và là ánh sáng chiếu soi các mầu nhiệm ấy. Ðây là giáo huấn căn bản nhất và trọng yếu nhất theo "phẩm trật các chân lý đức tin" (DCG 43). "Trọn lịch sử cứu độ chỉ là lịch sử về đường lối và các phương tiện mà Thiên Chúa chân thật và duy nhất là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dùng để tự mặc khải, để giao hòa và kết hợp với Người những ai từ bỏ tội lỗi" (DCG 47).

235  Tiết này trình bày cách ngắn gọn : (I) Thiên Chúa mặc khải mầu nhiệm Ba Ngôi; (II) Hội Thánh trình bày giáo huấn đức tin về mầu nhiệm đó; (III) Chúa Cha thực hiện "kế hoạch nhân hậu" của Người là tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa qua sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

236 (1066 259)  Các Giáo phụ phân biệt Theologia (Thần luận) với Oikonomia (Nhiệm Cục). Thuật ngữ thứ nhất chỉ mầu nhiệm đời sống nội tại nơi Thiên Chúa Ba Ngôi. Thuật ngữ thứ hai chỉ mọi công cuộc Thiên Chúa dùng để tự mặc khải và thông ban sự sống của Người. Nhờ Oikonomia mà chúng ta được biết Theologia, nhưng đối lại, Theologia soi sáng toàn thể Oikonomia. Các công trình của Thiên Chúa mặckhải cho ta biết Người, và đối lại, mầu nhiệm đời sống nội tại của Thiên Chúa giúp chúng ta hiểu các công trình của Người. Cũng thế, trong các tương quan nhân loại, con người biểu lộ mình qua hành động; càng biết một người, càng hiểu rõ hành động của họ hơn.

237 (50)  Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm đức tin hiểu theo nghĩa chặt chẽ nhất, một trong những "mầu nhiệm đượcẩn giấu trong Thiên Chúa... không ai biết được nếu ơn trên không mặc khải" (SPF 16). Chắc chắn Thiên Chúa đã để lại dấu vết của bản thể Ba Ngôi trong công cuộc tạo dựng và trong dòng mặc khải Cựu Ước. Nhưng trước cuộc nhập thể của Con Thiên Chúa và sứ vụ của Chúa Thánh Thần, mầu nhiệm Ba Ngôi vẫn là một mầu nhiệm mà nguyên lý trí của loài người và ngay cả đức tin của Ít-ra-en xưa cũng không thể vươn tới được.

II- MẶC KHẢI VỀ THIÊN CHÚA BA NGÔI

Chúa Cha được mặc khải qua Chúa Con

238 (2443)  Ðã có nhiều tôn giáo biết kêu cầu Thượng Ðế với tước hiệu "Cha". Thượng Ðế thường được coi là "cha của các thần linh và của người phàm". Trong dân Ít-ra-en, Thiên Chúa được gọi là Cha vì là Ðấng sáng tạo vũ trụ (x. Ðnl 32, 6; Ml 2, 10). Hơn nữa Thiên Chúa còn là Cha vì đã giao ước và ban lề luật cho Ít-ra-en, "con đầu lòng của Người" (Xh 4, 22). Người cũng được gọi là Cha của vua It-ra-en (x. 2 Sm 7, 14). Ðặc biệt hơn nữa, Người là "Cha của người nghèo", của cô nhi, quả phụ là những kẻ được Người thương yêu che chở (Tv 68, 6).

239 (370, 2779)  Khi gọi Thiên Chúa là "Cha", ngôn ngữ đức tin chủ yếu muốn nêu lên hai khía cạnh : Thiên Chúa là nguồn gốc đầu tiên của mọisự và là Ðấng uy quyền siêu việt, đồng thời là Ðấng nhân hậu yêu thương chăm sóc mọi con cái. Nơi Thiên Chúa, tình cha con trìu mến này cũng có thể diễn tả qua tình mẫu tử (x. Is 66, 13; Tv. 131, 2) . Hình ảnh nàylàm rõ nét hơn tính nội tại của Thiên Chúa, mối thâm tình giữa Thiên Chúa và thụ tạo. Như vậy, ngôn ngữ đức tin được hình thành từ kinh nghiệm về cha mẹ trần thế, những người dưới một khía cạnh nào đó, là đại diện đầu tiên của Thiên Chúa nơi con người. Nhưng kinh nghiệm đó cũng cho thấy là cha mẹ trần thế có thể sai lệch và bóp méo hình ảnh làm cha làm mẹ. Cho nên, cần phải nhắc lại là Thiên Chúa vượt trên sự phân biệt phái tính của người phàm. Người không là nam mà cũng không là nữ. Người là Thiên Chúa. Vì Người là nguồn gốc và là chuẩn mực (x. Tv 68, 6) cho chức năng làm cha làm mẹ, nên Người luôn trổi vượt trên cha mẹ trần thế : khôngai là cha một cách trọn hảo như Thiên Chúa.

240 (2780 441 – 445)  Ðức Giê-su đã mặc khải cho ta biết Thiên Chúa là "Cha" theo một nghĩa chưa từng có : Người không chỉ là Cha vì là Tạo Hóa, từ muôn thuở Người là Cha trong tương quan với Con duy nhất, Ngôi Con từ muôn thuở cũng chỉ là Con trong tương quan với Ngôi Cha : "Không ai biết Người Con trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho" (Mt 11, 27).

241 Vì vậy các tông đồ tuyên xưng Ðức Giê-su là "Ngôi Lời vẫn có từ lúc khởi đầu bên Thiên Chúa và là Thiên Chúa" (Ga 1, 1), là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (Cl 1, 15), là "phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh của bản thể Thiên Chúa" (Dt 1, 3).

242 (465)  Tiếp đó, theo truyền thống các tông đồ để lại, năm 325 tại Công Ðồng chung thứ nhất Ni-xê-a, Hội Thánh tuyên xưng Chúa Con "đồng bản thể" với Chúa Cha, nghĩa là một Thiên Chúa duy nhất cùng với Người. Công Ðồng chung thứ hai Con-tan-ti-nô-pô-li năm 381, vẫn giữ lại thuật ngữđó, được đề ra trong bản kinh Tin Kính của Ni-xê-a và đã tuyên xưng : Con Một Thiên Chúa sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời, ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Chúa Cha"(DS 150).

Chúa Cha và Chúa Con được mặc khải nhờ Thánh Thần

243 (683 2780 687) Trước lễ Vượt Qua, Ðức Giê-su báo tin sẽ cử một Ðấng Bào Chữa khác (Ðấng Bảo Vệ), đó là Chúa Thánh Thần. Người tác động từ thuở khai thiên lập địa (x. St 1, 2); Người đã dùng "các ngôn sứ mà phán dạy" (Kinh Tin Kính Ni-xê-a Con-tan-ti-nô-pô-li). Nay người sẽ ở với và trong các môn đệ (x. Ga 14, 17) để dạy bảo (Ga 14, 26)và dẫn đưa họ đến "sự thật trọn vẹn" (Ga 16, 13). Chúa Thánh Thần được mặc khải như một ngôi vị Thiên Chúa, khác với Ðức Giê-su và với Chúa Cha.

244 (732)  Nguồn gốc vĩnh cửu của Chúa Thánh Thần được mặc khải trong sứ mạng trần thế của Người. Thánh Thần được cử đến với các tông đồ và Hội Thánh, vừa do Chúa Cha nhân danh Chúa Con, và cũng do chính Chúa Con, một khi Người trở về bên Chúa Cha (x. Ga 14, 26; 15, 26; 16, 14). Việc cử Chúa Thánh Thần đến sau khi Ðức Giêsu được tôn vinh (x. Ga7, 39), mặc khải một cách viên mãn mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh.

245 (152 685)  Ðức tin tông truyền về Chúa Thánh Thần đã được tuyên xưng tại Công Ðồng chung Con-tan-ti-nô-pô-li năm 381 : "Chúng tôi tin kính Chúa Thánh Thần, Người là Chúa, và là Ðấng ban sự sống; Người phát xuất từ Chúa Cha" (DS 150). Qua đó, Hội Thánh nhìn nhận Chúa Cha là "nguồn gốc và khởi thủy của tất cả thiên tính" (Cđ. Tô-lê-đô VI - 638: DS 490). Nguồn gốc vĩnh cửu của Chúa Thánh Thần và của Chúa Con không phải là không có liên hệ với nhau: "Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba, là Thiên Chúa, là một và đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Con, cùng bản thể và cũng cùng bản tính... Tuy nhiên, Người không chỉ là Thần Khí của Chúa Cha mà thôi nhưng là Thần Khí cùng lúc của Chúa Cha và Chúa Con" (Cđ. Tô-lê-đô năm 675: DS 527). Bản Kinh Tin Kính Công Ðồng Con-tan-ti-no-po-li tuyên xưng : "Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con" (DS 150).

246  Kinh Tin Kính theo truyền thống La tinh tuyên xưng rằng Chúa Thánh Thần"phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con (Filioque)". Công Ðồng Flô-ren-xê năm 1438 nêu rõ : "Chúa Thánh Thần lãnh nhận bản tính và hữu thể vừa từ Chúa Cha, vừa từ Chúa Con. Ðời đời Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con như từ cùng một nguyên lý và từ một nhiệm suy duy nhất... Và bởi vì tất cả những gì có nơi Chúa Cha, thì chính Chúa Cha đã ban cho Con Một khi sinh ra Con, trừ hữu thể là Cha. Ngay cả việc Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Con, thì Chúa Con cũnglãnh nhận nơi Chúa Cha từ đời đời, vì từ muôn thuở Chúa Cha đã sinh ra Chúa Con" (DS 1300-1301).

247  Lời khẳng định "và Chúa Con" (Filioque) không có trong kinh Tin Kính năm 381 tại công đồng Con-tan-ti-no-pô-li, nhưng dựa theo một truyền thống cổ xưa của trường phái La tinh và A-le-xan-ri-a, Thánh Lê-ô I Giáo Hoàng đã tuyên xưng điều này như một tín điều vào năm 447 (DS 284). Trước khi Rô-ma biết kinh Tin Kính của năm 381 và đón nhận kinh này vào năm 451 tại công đồng Can-xê-dô-ni-a. Tuy nhiên, việc sử dụng công thức này (Filioque) trong kinh Tin Kính được chấp nhận dần dần trong phụng vụ La tinh từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XI. Tuy nhiên, việc phụng vụ La Tinh đưa công thức Filioque vào trong Kinh Tin Kính của Công Ðồng Ni-xê-a Con-tan-ti-nô-pô-li còn là mối tranh cãi cho đến ngày nay với các Giáo Hội Chính Thống.

248  Truyền thống Ðông Phương muốn nhấn mạnh Chúa Cha là nguồn gốc tiên khởi của Chúa Thánh Thần. Khi tuyên xưng Chúa Thánh Thần "phát xuất từ Chúa Cha" (Ga 15, 26), Ðông Phương xác định Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha qua Chúa Con (x. AG 2). Truyền thống Tây Phương muốn nhấn mạnh sự hiệp thông đồng bản thể giữa Chúa Cha và Chúa Con khi nói rằng Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con (filioque). Tây Phương nói như vậy là "chính đáng và hợp lý"(Cđ Flô-ren-sô năm 1439 : DS 1302). Vì theo trật tự vĩnh cữu giữa các Ngôi vị Thiên Chúa trong sự hiệp thông đồng bản thể, Chúa Cha là nguồn gốc tiên khởi tức là "nguyên lýkhông nguyên lý" của Chúa Thánh Thần (DS 1331) và đồng thời Người là Cha sinh ra Con duy nhất; nên Chúa Cha và Chúa Con là "nguyên lý duy nhất xuất phát Chúa Thánh Thần" (Cđ Lyon II năm1274 : DS 850). Hai truyền thống đều chính đáng và bổ sung cho nhau. Nếu chúng ta đừng quá nhấn mạnh về một phía nào, thì cả hai cùng tin như nhau về thực tại mầu nhiệm được tuyên xưng.

III. BA NGÔI CHÍ THÁNH TRONG ÐẠO LÝ ÐỨC TIN

Sự hình thành tín điều Chúa Ba Ngôi

249 (683 189)  Chân lý mặc khải về Thiên Chúa Ba Ngôi, ngay từ buổi sơ khai, là nền tảng nguyên thủy của đức tin sống động của Hội Thánh, chủ yếu là qua bí tích Thánh Tẩy. Chân lý đó đã được diễn tả trong lời tuyên xưng đức tin khi rửa tội, được trình bày trong các giảng thuyết, trong huấn giáo và trong kinh nguyện của Hội Thánh. Người ta gặp những công thức như vậy trong các văn thư tông đồ, chẳng hạn lời chào được phụng vụ Thánh Thể lấy lại: "Nguyện xin ân sủng Ðức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em" (2Cr 13, 13) (x. 1Cr 12, 4-6; Eph 4, 4-6).

250 (94)  Trong những thế kỷ đầu, Hội Thánh đã cố gắng trình bày minh bạch hơn đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, vừa để đào sâu sự hiểu biết của chính mình về đức tin, vừa để bảo vệ đức tin khỏi những lệch lạc. Ðó là công trình của các công đồng xưa, qua sự đóng góp của các giáo phụ về thần học và dựa trên cảm thức đức tin của dân Thánh.

251 (170)  Ðể trình bày tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi, Hội Thánh triển khai một hệ thống từ ngữ riêng, dựa vào những khái niệm bắtnguồn từ triết học như: "bản thể", "ngôi vị", hoặc "bản vị", "tương quan" v. v... Vì Hội Thánh không muốn đức tin lệ thuộc vào một sự khôn ngoan trần thế nào, nên đãcho các từ ngữ nầy một ý nghĩa mới để chúng có khả năng diễn đạt mầu nhiệm khôn tả, "vượt xa khôn cùng tất cả những gì chúng ta có thể mường tượng được với khả năng của người phàm" (SPF 2).

252  Hội Thánh sử dụng thuật ngữ"bản thể" (hay thuật ngữ "yếu tính" hoặc "bản tính") để chỉ hữu thể đơn nhất của Thiên Chúa; thuật ngữ "ngôi vị" hoặc " bản vị" để chỉ Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong sự phân biệt thật sự giữa Ba Ngôi; thuật ngữ"tương quan" để chỉ sự khác biệt giữa Ba Ngôi trong mối liên hệ nội tại.
Tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi

253 (2789 590)  Ba Ngôi là Một. Chúng ta không tuyên xưng ba Thiên Chúa, nhưng một Thiên Chúa duy nhất có Ba Ngôi : "Ba Ngôi đồng bản thể" (Cđ Con-tan-ti-nô-pô-li II năm 553; DS 421). Các ngôi vị Thiên Chúa không chia nhau một thiên tính duy nhất , nhưng mỗi ngôi vị đều là Thiên Chúa trọn vẹn : Chúa Cha là gì thì Chúa Con là thế ấy, Chúa Con là gì thì Chúa Chalà thế ấy, và Chúa Cha và Chúa Con là gì thì Chúa Thánh Thần là thế ấy, nghĩa là một Thiên Chúa duy nhất theo bản tính. Mỗi ngôi vị là thực tại đó, nghĩa là bản thể, yếu tính, bản tính đó".
254 468, 689

Các Ngôi vị Thiên Chúa thực sự phân biệt với nhau. "Thiên Chúa duy nhất nhưng không đơn độc" (Fides Damasi :DS71). "Chúa Cha", "Chúa Con", "Chúa Thánh Thần" không đơn thuần là những danh từ chỉ cách thức hiện hữu của hữu thể Thiên Chúa vì Ba Ngôi thực sự phân biệt với nhau : "Chúa Con không phải là Chúa Cha, và Chúa Cha không phải là Chúa Con, và Chúa Thánh Thần không phải là Chúa Cha hoặc Chúa Con" (Cđ Tô-lê-đô XI năm 675: DS 530). Ba Ngôi phân biệt nhau do các mối tương quan về nguồn gốc : "Chúa Cha là Ðấng sinh ra, Chúa Con là Ðấng được Chúa Cha sinh ra, Chúa Thánh Thần là Ðấng phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con" (Cđ. La-tran IVnăm 1215: DS 804). "Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi".

255 240 Các Ngôi vị Thiên Chúa có liên hệ với nhau. Sự phân biệt đích thực giữa các Ngôi Vị hệ tại những mối tương quan nên không làm mất đi tính duy nhất của Thiên Chúa. "Các danh xưng nói lên mối tương quan giữa các Ngôi vị : Chúa Chaqui về Chúa Con, Chúa Con qui về Chúa Cha, và Chúa Thánh Thần qui về hai Ngôi trên; dù có nói tới ba ngôi vị khi chú trọng đến các tương quan, chúng ta vẫn tin Thiên Chúa có một bản tính hoặc một bản thể duynhất (Cđ Tô-lê-đô XI năm 675: DS 528). Quả thật "mọi sự đều là một (nơi Ba Ngôi) vì không thể có sự đối nghịch trong tương quan" (Cđ Flô-ren-sô năm 1442: DS 1330). "Vì sự đơn nhất đó, Chúa Cha hoàn toàn ở trong Chúa Con, hoàn toàn ở trong Chúa Thánh Thần; Chúa Con hoàn toàn ở trong Chúa Cha, hoàn toàn ở trong Chúa Thánh Thần; Chúa Thánh Thần ở hoàn toàn trong Chúa Cha, hoàn toàn trong Chúa Con" (Cđ Flô-ren-sô 1442: DS 1331).

 256 236, 684  Thánh Grê-gô-ri-ô thành Nazianze, được người đời xưng tụng là " nhà thần học", trao cho những dự tòng tại Con-tan-ti-nô-pô-li bản tóm lược đức tin về Ba Ngôi như sau:

(84)  Xin giữ cho tôi kho tàng quý báu này, mà vì nó tôi sống và chiến đấu, và còn muốn đem theo khi chết, nhờ nó tôi chấp nhận tất cả mọi gian khổ và khinh chê mọi lạc thú: tôi muốn nói đến bản tuyên xưng đức tin vào Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Hôm nay tôi trao gửi anh chị em. Với lời tuyên xưng này, lát nữa, tôi sẽ dìm anh chị em xuống nước rồi nâng anh chị em lên. Tôi trao cho anh chị em bản tuyên xưng đó làm người bạn đường, người bảo trợ anh chị em suốt đời. Tôi trao cho anh chị em một Thiên Chúa duy nhất và quyền năng Một Thiên Chúa trong Ba Ngôi Vị, phân biệt nhau. Một thiên tính không có dị biệt trong bản thể hoặc bản tính, không cấp bậc hơn kém. Cả Ba Ngôi Vị vô tận, cùng chungmột bản tính vô tận. Mỗi Ngôi vị tự thân là Thiên Chúa trọn vẹn... Cả Ba Ngôi kết hợp cũng là Thiên Chúa... Tôi chưa bắt đầu suy tưởng đến Thiên Chúa duy nhất, thì hào quang của Ba Ngôi Thiên Chúa tràn ngập thân tôi. Tôi chưa bắt đầu suy tưởng đến Ba Ngôi, thì Thiên Chúa duy nhất làm tôi sững sờ... (Or. 40, 41).

IV. CÔNG TRÌNH CỦA THIÊN CHÚA VÀ SỨ MẠNG CỦA BA NGÔI

257 (221 758 292 850) - "Ôi Ba Ngôi ánh sáng diễm phúc. Ôi Ðấng duy nhất nguyên thủy!" (Thánh Thi Kinh chiều lễ Ba Ngôi). Thiên Chúa là hạnh phúc trường cửu, sự sống bất diệt, ánh sáng không tàn lụi. Thiên Chúa là tình thương : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa tự ý muốn thông chia vinh quang sự sống hạnh phúc của Người. Ðó là "kế hoạch yêu thương" (Ep 1, 9) mà Người đã cưu mang từ trước khi tạo dựng vũ trụ trong Con yêu dấu của Người, "Người đã tiền định cho ta làmnghĩa tử trong Con của Người" (Ep 1, 4-5), nghĩa là "nên đồng hình đồng dạngvới Con của Người" (Rm 8, 29) nhờ "Thần trí làm nên nghĩa tử"(Rm 8, 15). Kế hoạch này là một "ân sủng được trao ban từ muôn thuở"(2Tm 1, 9-10) xuất phát trực tiếp từ tình thương Ba Ngôi. Tình thương này được trải ra trong công cuộc sáng tạo, trong toàn bộ lịch sử cứu độ sau khi nguyên tổ sa ngã, trong sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần mà sứ mạng Hội Thánh tiếp nối (AG 2-9).

258 (686)  Toàn bộ nhiệm cục của Thiên Chúa là công trình chung của Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì, cũng như Ba Ngôi chỉ cómột bản tính, Ba Ngôi cũng chỉ có cùng một hoạt động (x. Cđ Constantinople II năm 553: DS 421). "Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần không phải là ba nguyên lý của thụ tạo mà là một nguyên lý duy nhất" (x. Cđ Florence năm 1442:DS 1331). Nhưng mỗi Ngôi Vị thực hiện công trình chung theo đặc tính riêng. Cho nên, dựa vào Tân Ứơc (x. 1Cr 8, 6), Hội Thánh tuyên xưng "Một Thiên Chúa là Cha, Ðấng tạo thành mọi sự, một Chúa Giê-su Ki-tô, cùng đích của mọi sự, và một Chúa Thánh Thần, trong Người muôn vật được hiện hữu" (x. Cđ. Constantinople II :DS 421). Ðặc biệt các sứ mạng của Thiên Chúa nơi mầu nhiệm nhập thể của Chúa Con và trong việc trao ban Chúa Thánh Thần, tỏ lộ nét đặc thù của từng Ngôi Vị.

259 (236)  Vừa là công trình chung, vừa là công trình của mỗi ngôi vị, nên toàn bộ nhiệm cục của Thiên Chúa vừa cho thấy đặc tính của từng ngôi vị vừa cho thấy bản tính duy nhất của Ba Ngôi. Vì thế, người Ki-tô hữu có hiệp thông với một Ngôi Vị, thì cũng không mảy may tách rời Ba Ngôi. Ai tôn vinh Chúa Cha, thì tôn vinh nhờ Chúa Con trong Chúa Thánh Thần; ai bước theo Chúa Ki-tô là do Chúa Cha lôi kéo (x. Ga 6, 44) và Chúa Thánh thần thúc đẩy (Rm 8, 14)

260 (1050, 1721 1997) Cùng đích của toàn bộ nhiệm cục của Thiên Chúa là đưa các thụ tạo vào sự kết hợp trọn vẹn với Ba Ngôi diễm phúc (Ga 17, 21-23). Nhưng ngay từ bây giờ, chúng ta được mời gọi trở nên nơi cư ngụ của Ba Ngôi Chí Thánh : "Chúa nói : ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở nơi người ấy" (Ga 14, 23)

2565  Ôi Thiên Chúa của con, con thờ lạy Ba Ngôi, xin giúp con quên hẳn mình đi để ở trong Chúa, bất động và bình an như thể hồn con đang sống trong vĩnh hằng; xin đừng để điều gì quấy phá sự bình an của con, và làm con phải ra khỏi Chúa, ôi Ðấng Bất Biến của con, nhưng xin cho mỗi phút đem con vào sâu hơn trong mầu nhiệm của Chúa ! Xin cho tâm hồn con được bình an và trở thành thiên đường của Chúa, nơi cư ngụ Chúa yêu thích, nơi Chúa nghỉ ngơi. Xin cho con đừng bao giờ để Chúa một mình, nhưng luôn có mặt , trọn vẹn, tỉnh thức trong đức tin, hết lòng thờ kính, hiến dâng trọn vẹn để Chúa tác tạo (lời nguyện của chân phúc Ê-li-sa-beth Ba Ngôi).

TÓM LƯỢC

261  Mầu nhiệm Ba Ngôi Chí Thánh là mầu nhiệm trọng tâm của đức tin và đời sống Ki-tô hữu. Chỉ một mình Thiên Chúa mới cho ta biết được mầu nhiệm ấy khi tự mặc khải là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

262  Việc nhập thể của Con Thiên Chúa mặc khải rằng Thiên Chúa là Cha từ muôn thuở, và Chúa Con đồng bản thể với Chúa Cha, nghĩa là Chúa Con ở trong Chúa Cha và cùng với Chúa Cha là Thiên Chúa duy nhất.

263  Sứ mạng của Chúa Thánh thần, Ðấng Chúa Cha cử đến nhân danh Chúa Con (x. Ga 14, 26) và được Chúa Con gửi đến "từ nơi Chúa Cha" (Ga 15, 26) mặc khải rằng Chúa Thánh Thần cùng với Chúa Cha và Chúa Con là một Thiên Chúa duy nhất. "Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con".

264
") Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha như nguồn mạch đầu tiên, và bởi Chúa Cha hằng ban tặng mình cho Chúa Con, nên Chúa Thánh Thần cũng phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con" (T. Âu-tinh, tự thuật 15, 26, 47).

265  Nhờ ân sủng Bí tích Thanh Tẩy "nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần", chúng ta được mời gọi chia sẻ sự sống của Ba Ngôi Diễm Phúc, ở trần thế này trong bóng tối của đức tin và sau khi chết trong ánh sáng vĩnh cửu (x. SPF 9).

266 - "Ðức tin công giáo hệ tại điều này : thờ kính Một Chúa Ba Ngôi và Ba Ngôi Một Chúa mà không lẫn lộn giữa các Ngôi Vị, không chia cắt bản thể : vì Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần khác biệt nhau; nhưng Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần có cùng một thiên tính, một vinh quang, một uy quyền vĩnh cửu" (Symbolum "Quicumque").

267  Vì không tách rời trong hữu thể, các Ngôi Vị không tách rời trong hành động. Nhưng trong hành động duy nhất của Thiên Chúa, mỗi Ngôi Vị biểu lộ đặc tính riêng của mình trong Ba Ngôi, đặc biệt trong sứ mạng Nhập Thể của Chúa Con và việc tặng ban Chúa Thánh Thần.

______________________________________

TIẾT 3: CHÚA CHA

268 (222)  Trong tất cả những thuộc tính của Thiên Chúa, chỉ có tính toàn năng là được nói đến trong Kinh Tin Kính. Việc tuyên xưng này có tầm quan trọng lớn lao đối với đời sống của chúng ta. Chúng ta tin rằng: Thiên Chúa toàn năng là Ðấng có uy quyền trên vạn vật, vì Người đã sáng tạo (x. Ga 1, 1; Ga 1, 3), điều khiển và làm được mọi sự Thiên Chúa toàn năng là Ðấng yêu thương, vì Người là Cha chúng ta; Thiên Chúa toàn năng còn là Ðấng huyền nhiệm vì chỉ nhờ đức tin chúng ta mới nhận ra sự toàn năng của Thiên Chúa khi quyền lực Người "bộc lộ trong sự yếu đuối" (2Cr 12, 9) (x. 1Cr 1, 18).

"Người làm tất cả những gì Người muốn" (Tv 115, 3)

269 (303)  Thánh Kinh tuyên xưng nhiều lần Thiên Chúa có uy quyền trên vạn vật. Người được gọi là "Ðấng Quyền Năng của Gia-cóp"(St 49, 24; Is 1, 24 tt). "Chúa các đạo binh", "Ðấng Mạnh Mẽ, Ðấng Oai Hùng" (Tv 24, 8-10). Thiên Chúa toàn năng "trên trời và dưới đất" (Tv 135, 6), vì Người đã tác tạo nên chúng. Không có gì mà Người không làm được (x. Gr 32, 17; Lc 1, 37); Người sắp đặt công trình theo ý Người (x. Gr 27, 5;); Người là Chúa cả vũ trụ, đã thiết lập trật tự cho nó, và trật tự đó luôn luôn quy phục Người. Người làm Chủ lịch sử : hướng dẫn các tâm hồn và các biến cố theo ý Ngưòi (x. Et 4, 17b; Cn 21, 1; Tb 13, 2). "Quyền năng lớn lao của Ngài luôn phụng sự Ngài, và ai có thể chống lại sức mạnh cánh tay Ngài?" (Kn 11, 21).

"Ngài thương xót mọi người, vì Ngài làm được mọi sự" (Kn 11, 23)

270 (2777 1441) Thiên Chúa là Cha toàn năng. Chức năng làm Cha và quyền năng của Người soi sáng cho nhau. Quả thế, Người biểu dương sự toàn năng của Người Cha qua cung cách Người chăm lo cho những nhu cầu của chúng ta (x. Mt 6, 32), khi nhận chúng ta làm nghĩa tử ("Ta sẽ là Cha các ngươi, và các người sẽ là con trai con gái Ta, Chúa toàn năng phán như vậy" (x. 2Cr 6, 18)); sau hết khi tỏ lòng khoan dung vô tận, vì Người biểu dương quyền năng tới tột đỉnh qua việc Người rộng lòng thứ tha mọi tội lỗi.

271 Thiên Chúa toàn năng không hề độc đoán : "Nơi Thiên Chúa, quyền năng và yếu tính, ý chí và trí tuệ, khôn ngoan và công bình là một, cho nên không có gì trong quyền năng của Thiên Chúa mà không nằm trong ý muốn chí công hay trong trí tuệ khôn ngoan của Người" (Th. Tô-ma Aq. , s. th. 125, 5, ad 1).

Huyền nhiệm về một Thiên Chúa xem ra bất lực

272 309 412 609 648  Ðức tin vào Thiên Chúa Cha toàn năng có thể bị thử thách do kinh nghiệm về sự dữ và đau khổ. Ðôi khi Thiên Chúa như vắng mặt và không ngăn chặn được sự dữ. Nhưng Chúa Cha đã mặc khải sự toàn năng của Người một cách thật huyền nhiệm khi Con của Người tự hạ và sống lại, nhờ đó Người thắng sự dữ . Như vậy, Ðức Ki-tô bị đóng đinh là "quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người" (1Cr 1, 24-25). Chính khi Ðức Ki-tô sống lại và được tôn vinh, Chúa Cha "biểu dương sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực" và cho thấy "quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là các tín hữu" (Ep 1, 19-22).

273 (148)  Chỉ nhờ đức tin, chúng ta mới có thể nhập cuộc vào đường lối mầu nhiệm của Thiên Chúa toàn năng. Ðức tin này tự hào về những yếu kém của mình, để thu hút quyền năng của Ðức Ki-tô (x. 2 Cr 12, 9; Pl 4, 13). Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a là khuôn mẫu tột đỉnh của đức tin ấy, vì Mẹ đã tin rằng "không có gì mà Thiên Chúa không làm được"(Lc 1, 37) và ca ngợi Chúa : "Ðấng Toàn năng đã làm cho tôi những việc kỳ diệu, Danh Người là Thánh" (Lc 1, 49).

274 (1814, 1817 2110)  "Không có gì làm cho chúng ta tin tưởng và hy vọng vững mạnh cho bằng xác tín : không có gì mà Thiên Chúa không làm được. Khi lý trí đón nhận tín điều Thiên Chúa là Cha Toàn Năng ở đầu kinh Tin Kính thì chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận không chút do dự tất cả những tín điều tiếp theo saulà những điều trọng đại nhất, khó hiểu nhất, cũng như những sự cao siêu nhất vượt trên tất cả những qui luật thông thường của thiên nhiên" (Giáo lý Rô-ma 1, 2, 13)

TÓM LƯỢC

275  Cùng với ông Gióp, người công chính, chúng ta tuyên xưng : "Tôi biết Ngài uy quyền vạn năng : Ngài có thể thực hiện được những gì Ngài dự tính" (G 42, 2).

276  Trung thành với chứng từ của Thánh Kinh, Hội Thánh thường xuyên dâng lời cầu nguyện lên cùng "Thiên Chúa Toàn Năng và Vĩnh Cửu", vững tin rằng : "đối với Thiên Chúa, không có gì là không làm được" (St 18, 14; Lc 1, 37; Mt 19, 26).

277  Thiên Chúa biểu dương sự Toàn Năng của Người khi giúp ta bỏ đàng tội lỗi và nhờ ân sủng tái lập ta trong tình thân với Người : "Lạy Chúa, khi Chúa thương xót và thứ tha, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền năng cách tỏ tường hơn cả" (Lời nguyện nhập Lễ CN 26 QN).

278  Nếu không tin Thiên Chúa yêu thương là Ðấng Toàn năng, thì làm sao có thể tin được là Chúa Cha sáng tạo chúng ta, Chúa Con cứu chuộc chúng ta, Chúa Thánh Thần thánh hoá chúng ta?

______________________________________

TIẾT 4: ĐẤNG SÁNG TẠO

279  Kinh Thánh được mở đầu bằng lời long trọng : "Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời và đất"(St 1, 1). Kinh Tin Kính lấy lại những lời đó khi tuyên xưng Thiên Chúa là Cha toàn năng, " Ðấng tạo thành trời và đất", "muôn vật hữu hình và vô hình". Vậy trước hết, chúng ta nói về Ðấng Sáng Tạo, kế đến về công trình tạo dựng của Người, sau hết về việc con người sa ngã phạm tội được Ðức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa đến nâng dậy.

280 (288 1043)  Sáng tạo là nền móng "của mọi ý định cứu độ của Thiên Chúa", "khởi đầu của lịch sử cứu độ" (DCG 51) mà Chúa Ki-tô là tuyệt đỉnh. Ngược lại, mầu nhiệm Chúa Ki-tô làm sáng tỏ mầu nhiệm sáng tạo, mặc khải cùng đích mà Thiên Chúa nhắm đến "lúc khởi đầu tạo thành trời và đất" (St 1, 1) : ngay từ buổi đầu, Thiên Chúa đã nhắm tới vinh quang của sáng tạo mới trong Ðức Ki-tô (x. Rm 8, 18-23).

281 (1095)  Vì vậy, các bài Sách Thánh trong đêm Phục Sinh, đêm mừng cuộc sáng tạo mới trong Ðức Ki-tô, bắt đầu bằng bài tường thuật về cuộc sáng tạo. Trong phụng vụ Byzance bài này luôn luôn là bài đọc thứ nhất trong buổi vọng các đại lễ kính Chúa. Theo các chứng từ cổ xưa, huấn giáo dự tòng về Thánh Tẩy cũng theo tiến trình về sáng tạo thứ nhất đến sáng tạo mới (x. Ethérie, pereg. 46; T. Âu- tinh, giáo lý 3, 5).

I- HUẤN GIÁO VỀ SÁNG TẠO

282 (1730)  Huấn giáo về sáng tạo có một tầm quan trọng cơ bản, liên quan đến chính nền tảng của đời sống nhân bản và đời sống Ki-tô hữu, vì nêu rõ câu trả lời của đức tin Ki-tô giáo cho câu hỏi căn bản mà con người của mọi thời đại thường đặt ra cho mình:"Chúng ta từ đâu tới?" "Chúng ta đi đâu?" "Nguồn gốc của chúng ta là gì?" "Cùng đích của chúng ta là gì ?" "Mọi vật hiện hữu từ đâu tới và đi về đâu?". Hai câu hỏi về nguồn gốc và cùng đích không tách rời nhau, chúng có tính cách quyết định đối với ý nghĩa và định hướng cho cuộc sống và hành động của chúng ta.

283 (159 341)  Câu hỏi về nguồn gốc thế giới và con người là đối tuợng của rất nhiều cuộc nghiên cứu khoa học, nhờ đó, chúng ta hiểu biết sâu rộng về độ tuổi và các chiều kích của vũ trụ, về sự biến hóa của các dạng sống, về sự xuất hiện của loài người. Những khám phá này mời gọi chúng ta thêm lòng cảm phục sự cao cả của Ðấng Tạo Hóa, tri ân vì các công trình của Người, vì trí thông minh và khôn ngoan Người ban cho các nhà bác học và các người sưu tầm. Cùng với Sa-lô-mon, họ có thể nói : "Chính Người đã cho tôi hiểu biết đích thực về sự vật, cho tôi biết cấu trúc của thế giới và đặc tính của các yếu tố ... Vì chính Ðấng Khôn Ngoan, là tác giả của mọi sự đã dạy tôi" (Kn 7, 17-21).
 
284  Còn một câu hỏi thuộc lãnh vực khác, vượt ngoài phạm vi của khoa học tự nhiên, thúc đẩy mạnh mẽ các cuộc nghiên cứu. Vấn đề không phải chỉ là tìm hiểu vũ trụ xuất hiện khi nào và cách nào, con người có mặt trên trái đất từ bao giờ, nhưng quan trọng chính là khám phá ra ý nghĩa của nguồn gốc đó. Phải chăng nguồn gốc vũ trụ bị điều khiển bởi một sự ngẫu nhiên, một định mệnh mù quáng, một tất yếu vô danh, hay được điều khiển bởi một Ðấng Siêu Việt, thông minh và tốt lành, mà ta gọi là Thiên Chúa. Và nếu thế giới này xuất phát từ sự khôn ngoan và sự tốt lành của Thiên Chúa thì tại sao có sự dữ? Nó tự đâu ra? Ai chịu trách nhiệm ? Có cách nào thoát khỏi sự dữ không?

285 (295 28)  Từ buổi đầu, Ki-tô giáo đã phải đương đầu với những giải đáp khác với đức tin của chính mình về vấn đề nguồn gốc. Người ta gặp trong các tôn giáo và các văn hóa cổ xưa nhiều huyền thoại về vấn đề nguồn gốc. Một số triết gia cho rằng tất cả mọi sự đều là Thiên Chúa, thế giới là Thiên Chúa, hoặc biến hóa của thế giới là biến hóa của Thiên Chúa (thuyết phiếm thần). Người khác cho rằng thế giới là một sự sinh xuất tất yếu của Thiên Chúa, chảy từ nguồn mạch rồi lại trở về đó. Người khác lại khẳng định sự hiện hữu của hai nguyên lý vĩnh tồn, Thiện và Ác, Ánh Sáng và Bóng Tối đấu tranh miên trường, (thuyết nhị nguyên, giáo phái do Manes sáng lập). Theo một vài quan niệm, thế giới (ít nữa là thế giới vật chất) là xấu, sản phẩm của một sự thoái hóa, vì vậy cần phải loại bỏ đi hoặc phải vượt khỏi (thuyết ngộ đạo); quan niệm khác chấp nhận rằng thế giới do Thiên Chúa tạo nên, như một người thợ làm ra một đồng hồ, làm ra rồi bỏ đó (tự nhiên thần giáo). Cuối cùng, có những quan niệm không chấp nhận nguồn gốc siêu việt nào cho thế giới, mà chỉ xem đó hoàn toàn là một chuyển vận của vật chất vẫn có từ muôn thuở (thuyết duy vật). Tất cả những cố gắng đó cho thấy, con người ở đâu cũng như bất cứ thời đại nào, đều thắc mắc về nguồn gốc của vũ trụ và của mình. Chỉ có con người mới khắc khoải truy tìm về cội nguồn như thế .

286 (32 37)  Trí thông minh loài người chắc chắn có khả năng tìm ra câu trả lời cho câu hỏi về nguồn gốc. Con người với ánh sáng của lý trí có thể nhận ra sự hiện hữu của Thiên Chúa qua các công trình của Người (x. DS 3026) cho dù sự hiểu biết đó nhiều khi bị lu mờ và lệch lạc vì lầm lẫn. Vì vậy, đức tin giúp xác nhận và soi sáng lý trí, để hiểu biết cách chính xác chân lý này. "Nhờ đức tin chúng ta hiểu rằng vũ trụ đã được hình thành bởi một lời của Thiên Chúa; vì thế những cái hữu hình là do những cái vô hình mà có "(Dt 11, 3).

287 (107)  Chân lý về sáng tạo rất quan trọng cho cuộc sống loài người, đến nỗi Thiên Chúa đã ưu ái mặc khải cho dân Người tất cả những gì cần biết về vấn đề nầy để được cứu độ. Vượt trên những hiểu biết tự nhiên mà con người có thể có được về Ðấng Tạo Hóa, (x. Cv. 17, 24-29; Rm 1, 19-20) Thiên Chúa đã dần dần mặc khải cho It-ra-en mầu nhiệm sáng tạo. Chính Người đã chọn các tổ phụ, đã đưa It-ra-en ra khỏi Ai cập, và khi đã tuyển chọn họ làm dân riêng , Người sáng lập và đào tạo dân nầy (x. Is 43, 1); Người cũng tự mặc khải là Ðấng làm chủ trái đất và muôn dân, là Ðấng duy nhất " đã dựng nên trời và đất" (Tv 115, 15; 124, 8 ; 134, 3).

288 (280) Như vậy, mặc khải về sáng tạo không tách rời khỏi việc Thiên Chúa duy nhất mặc khải và thực hiện Giao Ước với dân Người. Sáng Tạo được mặc khải như là bước đầu tiên tiến đến Giao Ước, như chứng từ tiên khởi và phổ quát tình thương toàn năng của Thiên Chúa (x. St 15, 5; Gr 33, 19-26). Vì thế, chân lý về sáng tạo được diễn tả ngày một mạnh mẽ hơn trong sứ điệp của các ngôn sứ (x. Is 44, 54), trong lời cầu nguyện của các thánh vịnh (x. Tv 104) và phụng vụ, trong suy tư (x. Cn 8, 22, -31) của dân tuyển chọn về minh triết.

289 (390 111) Trong tất cả những lời Thánh Kinh nói về sáng tạo, ba chương đầu của sách Sáng Thế chiếm địa vị độc tôn. Ðứng về phương diện văn chương, những bản văn đó có thể do nhiều nguồn khác nhau. Các tác giả được linh hứng đã đặt các bản văn này ở đầu Sách Thánh để long trọng diễn tả những chân lý về sáng tạo nguồn gốc và cùng đích của nó trong Thiên Chúa, trật tự và sự tốt lành của nó về ơn gọi của con người, cuối cùng về thảm kịch tội lỗi và niềm hy vọng vào ơn cứu độ. Những lời này, được đọc dưới ánh sáng của Chúa Ki-tô, trong sự thống nhất của Thánh Kinh, và trong Truyền thống sống động của Hội Thánh, vẫn là nguồn chính yếu cho việc huấn giáo về những mầu nhiệm của"khởi nguyên": tạo dựng, sa ngã, lời hứa cứu độ.

II. SÁNG TẠO - CÔNG TRÌNH CỦA BA NGÔI CHÍ THÁNH

290 (326)  "Lúc khởi đầu Thiên Chúa tạo dựng trời và đất": những lời đầu tiên này của Kinh thánh khẳng định ba điều : Thiên Chúa vĩnh cửu đã đặt một khởi điểm cho tất cả những gì hiện hữu bên ngoài Người; duy chỉ mình Người là Ðấng Sáng Tạo (động từ "sáng tạo"- tiếng hipri là bara - luôn có chủ từ là Thiên Chúa) ; toàn thể những gì hiện hữu (được diễn tả bằng công thức "trời và đất") đều tùy thuộc vào Ðấng đã cho chúng hiện hữu.

291 (241 331 703)  "Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời và Ngôi Lời là Thiên Chúa... Nhờ Ngôi Lời vạn vật được tạo thành và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành" (Ga 1, 1-3). Tân Ước mặc khải rằng : Thiên Chúa đã tạo dựng tất cả nhờ Ngôi Lời vĩnh cửu là Con yêu quí của Người. Chính trong Người mà "mọi sự trên trời và dưới đất được tạo dựng... , mọi sự được dựng nên nhờ Người và cho Người. Người có trước mọi sự và mọi sự tồn tại trong Người" (Cl 1, 16-17). Ðức tin của Hội Thánh cũng xác quyết như vậy về hoạt động sáng tạo của Chúa Thánh Thần. Người là "Ðấng ban sự sống" (Kinh Tin Kính Ni-xê-a Con-tan-ti-nô-po-li), là "Thần trí tác tạo"("Veni, Creator Spiritus"), là nguồn mạch của mọi thiện hảo (Phụng vụ Byzantine, kinh chiều lễ Hiện Xuống)

292 (699 257) Sự thống nhất không thể tách rời giữa hành động sáng tạo của Chúa Con và Chúa Thánh Thần với hành động sáng tạo của Chúa Cha đã được thoáng thấy trong Cựu Ước (x. Tv 33, 6; 104, 30; St 1, 2-3), và được mặc khải trong Tân Ước, nay được qui luật đức tin của Hội Thánh xác định rõ ràng : "chỉ có một Thiên Chúa duy nhất... : Người là Cha, là Thiên Chúa, là Ðấng Sáng Tạo, là Tác Giả, là Ðấng an bài mọi sự. Người tự mình tác tạo mọi sự nghĩa là nhờ Lời và đức Khôn Ngoan của Người" (T. I-rê-nê , chống lạc giáo, 2, 30. 9), "nhờ Chúa Con và Chúa Thánh Thần" như "những bàn tay của Người" (Ibid, 4, 20, 1.). Sáng tạo là công trình chung của Ba Ngôi Chí Thánh.
 
III. "VŨ TRỤ ÐƯỢC TẠO DỰNG ÐỂ LÀM VINH DANH THIÊN CHÚA"

293 (337, 344 1361)  Ðây là chân lý căn bản mà Thánh Kinh và Truyền Thống không ngừng giảng dạy và biểu dương : "Thế giới được tạo dựng để làm vinh danh Thiên Chúa" (x. Cđ Va-ti-can I : DS 3025). Thánh Bo-na-ven-tu-ra giải thích : Thiên Chúa đã sáng tạo mọi sự "không phải để gia tăng Vinh Quang, nhưng để biểu lộ và thông ban Vinh Quang đó" (x. Sent 2, 1, 2, 2. 1). Thiên Chúa không có lý do nào khác để sáng tạo ngoài tình thương và lòng nhân hậu của Người : "Chính chìa khóa tình thương đã mở bàn tay Người để sản sinh vạn vật" (T. Tô-ma Aq, Sent 2, prol). Công đồng Va-ti-ca-nô I giải thích :

759  Thiên Chúa duy nhất, trong ý định hoàn toàn tự do, ngay khởi đầu đã tạo dựng tất cả từ hư không, loài thiêng liêng hay loài có thể xác. Thiên Chúa đã làm như vậy, với lòng nhân hậu và nhờ sức mạnh toàn năng của Người; không phải để gia tăng hạnh phúc của Người, hoặc để đạt sự trọn hảo, nhưng là để biểu lộ sự trọn hảo ấy qua những điều tốt lành Người ban cho các thụ tạo (DS 3002).

294 (2809 1722 1992) Thiên Chúa bày tỏ vinh quang của Người qua việc biểu lộ và thông ban sự tốt lành của Người. Vì thế Người đã tạo thành vũ trụ . Theo ý muốn đầy lòng nhân hậu của Người, Người đã tiền định cho ta "làm nghĩa tử nhờ Ðức Giê-su Ki-tô, để xưng tụng Vinh Quang của ân sủng Người"(Ep 1, 5-6). "Vì vinh quang của Thiên Chúa là con người sống động và sự sống của con người là được thấy Thiên Chúa : nếu trước đây sự mặc khải Thiên Chúa qua cuộc sáng tạo đã đem đến sự sống cho mọi loài trên trái đất, thì sự biểu lộ của Cha nhờ Ngôi Lời càng đem lại gấp bội sự sống cho những ai thấy Thiên Chúa" (T. I-rê-nê chống lạc giáo 4, 20. 7). Cùng đích tối hậu của sáng tạo là : "Thiên Chúa được muôn loài suy phục (1Cr 15, 28), khi Người tỏ hiện vinh quang của Người và đem lại hạnh phúc cho chúng ta" (AG 2).

IV. MẦU NHIỆM SÁNG TẠO

Thiên Chúa lấy Ðức Khôn Ngoan và Tình Thương mà sáng tạo

295 216, 1951 Chúng ta tin Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ theo sự khôn ngoan của Người (x. Dtc 9, 9). Vũ trụ không phải là sản phẩm của một tất yếu nào đó, của một định mệnh mù quáng hoặc bởi ngẫu nhiên. Chúng ta tin vũ trụ phát xuất từ ý muốn tự do của Thiên Chúa, Người muốn cho các thụ tạo được tham dự vào hữu thể, sự khôn ngoan và tốt lành của Người. "Vì chính Ngài đã tác tạo mọi sự, Ngài muốn chúng coi là chúng được tạo dựng" (Kh 4, 11). "Công trình của Ngài nhiều biết bao! Lạy Chúa, Ngài đã tạo dựng tất cả thật khôn ngoan" (Tv 104, 24). "Ðức Chúa tốt lành với mọi loài, tỏ lòng yêu thương đối với mọi công trình Người làm ra" (Tv 145, 9).
Thiên Chúa tạo dựng từ "hư không"

296 (285)  Chúng ta tin Thiên Chúa không cần một thứ gì có trước hoặc một sự trợ giúp nào để sáng tạo (x. Cđ Va-ti-can I : DS 3022). Công trình sáng tạo cũng không phải là một sự phát xuất tất yếu từ bản thể Thiên Chúa (x. Cđ Va-ti-can I 3023 - 3024). Thiên Chúa tự do sáng tạo "từ hư không"(DS 800 ; 3025).

Nếu Thiên Chúa làm nên vũ trụ từ một chất liệu có trước thì có gì là phi thường ? Một người thợ, khi ta cho họ vật liệu, cũng làm ra được những gì họ muốn. Quyền năng Thiên Chúa được tỏ hiện khi Người làm tất cả những gì Người muốn từ hư không (T. Thê-ô-phi thành An-ti-ô-ki-aAutol 2, 4).

297 (338)  Ðức tin vào sự sáng tạo "từ hư không" được xác nhận trong Thánh Kinh như một chân lý đầy hứa hẹn và hy vọng. Vì thế, trong sách Ma-ca-bê, bà mẹ đã khuyến khích bảy người con mình chịu cực hình tử đạo như sau :
 
Mẹ không biết các con đã xuất hiện thế nào trong dạ mẹ. Không phải mẹ đã cho chúng con tinh thần và sự sống, không phải mẹ đã sắp đặt các yếu tố cấu tạo nên mỗi người chúng con. Vì thế, Ðấng tạo dựng thế giới, đã tác tạo loài người và là nguồn gốc mọi sự, sẽ trả lại cho chúng con, cả tinh thần lẫn sự sống, theo lượng từ bi của Người, vì giờ đây chúng con coi khinh chính mình vì lòng yêu mến giới luật Người. Này con, hãy nhìn trời, đất và tất cả những thứ trong đó mà biết rằng, từ hư không, Thiên Chúa đã làm nên chúng và loài người cũng được tạo nên như vậy (2Mcb 7, 22-23, 28).

298 (1375 992)  Vì Thiên Chúa có thể sáng tạo từ hư không, nên Người có thể nhờ Thánh Thần, ban sự sống phần hồn cho người tội lỗi bằng cách tạo cho họ một quả tim tinh tuyền (x. Tv 51, 12), và nhờ sự Phục Sinh, ban sự sống phần xác cho người đã chết, vì Người là "Ðấng làm cho kẻ chết được sống và khiến những gì không hóa có" (Rm 4, 17). Vì Người đã có thể làm cho ánh sáng bừng lên từ đêm tối (x. St 1, 3) nhờ Lời của Người, nên cũng có thể ban ánh sáng đức tin cho những kẻ chưa biết Người (x. 2Cr 4, 6).

Thiên Chúa sáng tạo một thế giới trật tự và tốt lành

299 (339 41, 1147 358 2415)  Vì Thiên Chúa sáng tạo là Ðấng khôn ngoan nên công trình sáng tạo có trật tự : "Ngài đã an bài mọi sự có mực thước, có số, có lượng"(Kn 11, 20). Vũ trụ được sáng tạo trong và nhờ Ngôi Lời vĩnh cửu, "hình ảnh của Thiên Chúa vô hình"(Cl 1, 15) nên được dành sẵn cho con người là hình ảnh của Thiên Chúa (x. St 1, 26), là kẻ được mời gọi để hiệp thông trong tương quan cá nhân với Người. Ðược tham dự vào ánh sáng của Ðấng thượng trí, trí khôn con người có thể nghe được những gì Thiên Chúa nói với chúng ta qua công trình sáng tạo (x. Tv 19, 2-5); dĩ nhiên con người cần cố gắng nhiều, trong khiêm tốn và kính trọng trước Ðấng Tạo Hóa và công trình của Người (x G 42, 3). Phát xuất từ Thiên Chúa tốt lành, công trình sáng tạo dự phần vào sự tốt lành của Người : ("và Thiên Chúa thấy điều đó tốt lành... rất tốt lành":St 1, 4. 10. 12. 18. 21. 31), và Thiên Chúa muốn trao ban nó cho con người như một quà tặng, một gia sản được dành sẵn và ủy thác cho họ. Hội Thánh nhiều lần phải biện hộ cho sự tốt lành của công trình sáng tạo, kể cả thế giới vật chất (x. DS 286 ; 455-463 ; 800 ; 1333 ; 3002).

Thiên Chúa vừa siêu việt vừa hiện diện

300 (42, 223) Thiên Chúa vô cùng cao cả vượt trên các công trình của Người (x. Hc 43, 28) : "Oai phong của Người vượt trên các tầng trời" (Tv 8, 2). "Sự cao cả của Người khôn lường" (Tv 145, 3). Nhưng vì Người là Ðấng Tạo Hóa tối cao và tự do, căn nguyên của tất cả những gì hiện hữu, Người hiện diện nơi thâm sâu nhất của loài thụ tạo : "Nơi Người chúng ta sống, chúng ta cử động và chúng ta hiện hữu"(Cv 17, 28). Theo lời Thánh Âu-tinh : "Người cao cả hơn những gì cao cả nhất trong tôi, thâm sâu hơn những gì thâm sâu nhất trong tôi" (T. Âu-tinh, Conf 3, 6, 11).

Thiên Chúa giữ gìn và nâng đỡ loài thụ tạo

301 (1951, 396)  Sau khi sáng tạo, Thiên Chúa không bỏ mặc các thụ tạo của Người. Người không chỉ ban cho chúng hữu thể và hiện hữu, Người còn luôn giữ gìn chúng hiện hữu, cho chúng khả năng hành động và đưa chúng đến cùng đích. Một trong những nguồn mạch khôn ngoan và tự do, niềm vui và niềm cậy trông của con người là nhận ra mọi sự tùy thuộc hoàn toàn vào Ðấng tạo hóa.

Vâng, Ngài yêu thương tất cả những gì hiện hữu, và không chán ghét một thứ gì trong những điều Ngài làm ra; vì nếu Ngài ghét sự gì, thì Ngài đã không làm ra nó. Và làm sao, một sự vật có thể tồn tại được nếu Ngài không muốn? Hoặc làm sao những thứ Ngài không gọi đến có thể được bảo tồn? Nhưng Ngài thương tiếc tất cả vì tất cả là của Ngài, Ngài là chủ nhân yêu thích sự sống (Kn 11, 24-26).

V. THIÊN CHÚA THỰC HIỆN Ý ÐỊNH CỦA NGƯỜI : SỰ QUAN PHÒNG

302   Công trình sáng tạo có sự tốt lành và hoàn hảo riêng, nhưng chưa hoàn tất khi được dựng nên. Vạn vật đang ở trong một "tiến trình" hướng đến sự trọn hảo tối hậu do Thiên chúa định sẵn. Sự quan phòng của Thiên Chúa chính là những đường lối Người xếp đặt để đưa vạn vật tới sự trọn hảo đó.

Nhờ sự quan phòng của Người, Thiên Chúa gìn giữ và điều khiển tất cả những gì Người đã sáng tạo, "biểu dương sức mạnh trên khắp địa cầu và dịu dàng xếp đặt tất cả" (Kn 8, 1). Vì "tất cả mọi sự đều trần trụi và phơi bày ra trước mặt Người" (Dt 4, 13), kể cả những điều do hành động tự do của con người tạo ra (Cđ Va-ti-can I : DS 3003).

303 (269)  Chứng từ của Thánh Kinh đều đồng nhất : Thiên Chúa quan phòng chăm sóc mọi sự cách cụ thể và trực tiếp, từ những cái nhỏ nhất đến những biến cố vĩ đại của thế giới và lịch sử. Các Sách Thánh xác quyết mạnh mẽ quyền tối thượng của Thiên Chúa trong mọi biến cố : "Thiên Chúa chúng ta, trên trời, dưới đất, Người làm những gì Người muốn"(Tv 115, 3). Sách Thánh cũng nói về Chúa Ki-tô: "Người mở ra thì không ai đóng được, Người đóng lại thì không ai mở được" (Kh 3, 7) ; "Con người có nhiều kế hoạch, nhưng duy chỉ có ý định của Thiên Chúa là sẽ thực hiện" (Cn 19, 21).

304 (2568)  Kinh Thánh dưới tác động của Chúa Thánh Thần, thường qui các hành động về Thiên Chúa, mà không nhắc đến các nguyên nhân đệ nhị. Ðó không phải là "cách nói" ngây ngô, nhưng là cách rất sâu sắc để nhắc lại quyền tối thượng và địa vị Chủ Tể tuyệt đối của Thiên Chúa trên lịch sử và toàn thế giới (x. Is 10, 5-15 ; 45, 5-7; Ðnl 32, 39 ; Hc 11, 14), và nhân đó giáo dục chúng ta tín thác vào Người. Lời cầu nguyện của các Thánh Vịnh là trường huấn luyện niềm tín thác đó (x. Tv 22 ; 32 ; 35 ; 103 ; 138 ;... .)

305 (2115)  Ðức Giê-su đòi hỏi chúng ta phó thác với tình con thảo vào sự quan phòng của Cha trên trời, Ðấng chăm sóc đến những nhu cầu nhỏ bé nhất của con cái : "Anh em đừng quá lo lắng tự hỏi : ta sẽ ăn gì ? uống gì ? Cha anh em Ðấng ngự trên trời, biết anh em cần những thứ đó. Vậy, trước hết phải lo tìm kiếm Nước Chúa và sự công chính của người, rồi các thứ kia, Người sẽ ban thêm cho" (Mt 6, 31-33; 10, 29-31).

Sự quan phòng và các nguyên nhân đệ nhị

306 (1884 1951)  Thiên Chúa hoàn toàn làm chủ ý định của Người. Nhưng để thực hiện, Người cũng dùng đến sự cộng tác của các thụ tạo. Ðây không phải là dấu hiệu của sự yếu kém, nhưng là dấu của sự cao cả và lòng tốt của Thiên Chúa Toàn Năng. Vì Thiên Chúa không chỉ cho các thụ tạo hiện hữu, nhưng cũng cho chúng phẩm giá tự mình hoạt động, làm nguyên nhân và nguyên lý cho nhau, và nhờ đó mà cộng tác vào việc hoàn thành ý định của Người.
 
307 (106, 373 1954 2427 2738 618, 1505)  Thiên Chúa còn ban cho con người khả năng tự do tham dự vào sự quan phòng của Người khi trao cho họ trách nhiệm "làm chủ" trái đất và thống trị nó (x. St 1, 26-28); như thế con người trở nên những nguyên nhân thông minh và tự do để hoàn tất công trình sáng tạo, làm cho công trình ấy được hài hòa trọn vẹn hầu mưu ích cho mình và cho tha nhân. Con người thường cộng tác với Thiên Chúa mà không ý thức nhưng có thể hội nhập một cách ý thức vào chương trình của Thiên Chúa bằng hành động, bằng lời cầu nguyện, bằng chính đau khổ của mình (x. Cl 1, 24). Khi đó, họ hoàn toàn trở thành "những cộng tác viên của Thiên Chúa" (1Cr 3, 9;1Th 3, 2) và của Nước Trời (x. Cl 4, 11).

308 (970)  Thiên Chúa hành động trong tất cả các hành động của thụ tạo, đây là một chân lý không thể tách rời khỏi đức tin vào Thiên Chúa, Ðấng Sáng Tạo. Người là nguyên nhân đệ nhất tác động trong và qua các nguyên nhân đệ nhị : "Vì chính Thiên Chúa tác động nơi chúng ta, để chúng ta quyết chí và hành động theo kế hoạch Người đã đặt ra vì yêu thương" (Pl 2, 13) (x. 1Cr 12, 6). Chân lý này không làm giảm bớt nhưng còn gia tăng phẩm giá của các thụ tạo. Ðược Thiên Chúa quyền năng, khôn ngoan và tốt lành sáng tạo từ hư không, thụ tạo không thể làm gì được nếu bị tách khỏi nguồn gốc; vì "thụ tạo mà không có Ðấng Tạo Hóa thì sẽ tan biến" (GS 36, 3), nó lại càng không thể đạt tới cùng đích tối hậu của mình nếu không có sự trợ giúp của ân sủng (x. Mt 19, 26; Ga 15, 5; Pl 4, 13).

Sự quan phòng và vấn đề sự dữ

309 (164, 385 2805)  Nếu Thiên Chúa là Cha Toàn Năng, Ðấng Sáng Tạo nên thế giới có trật tự và tốt lành, chăm sóc hết mọi thụ tạo, tại sao có sự dữ ? Trước câu hỏi không thể tránh và khẩn thiết, vừa đau thương, vừa bí nhiệm này không thể có một câu trả lời ngắn gọn mà đầy đủ được. Toàn bộ đức tin Ki-tô giáo là câu trả lời cho câu hỏi này : sự tốt lành củacuộc sáng tạo, thảm kịch tội lỗi, tình yêu kiên nhẫn của Thiên Chúa, Ðấng đã đi bước trước đến với con người qua các giao ước, qua việc Nhập Thể cứu chuộc của Chúa Con, qua việc ban Thánh Thần, qua việc qui tụ Hội Thánh qua sức mạnh của các bí tích, qua việc kêu gọi con người tới hưởng một cuộc sống diễm phúc mà ngay từ đầu các thụ tạo có tự do được mời gọi đón nhận, nhưng cũng ngay từ đầu chúng có thể từ chối, do một huyền nhiệm khủng khiếp! Không có bất cứ chi tiết nào của sứ điệp Ki-tô giáo mà không là một phần của câu trả lời cho câu hỏi về sự dữ.

310 (412 1042, 1050 342)  Tại sao Thiên Chúa không tạo dựng một thế giới thật hoàn hảo để không có một sự dữ nào xuất hiện ? Xét theo quyền năng vô biên Thiên Chúa vẫn có thể tạo dựng được điều tốt hơn (x. T. Tô-ma A-qui-nô tổng luận . 1, 25, 6). Nhưng trong sự khôn ngoan và nhân hậu vô biên của Ngừơi, Thiên Chúa đã tự ý sáng tạo một thế giới trong "tiến trình" hướng về sự trọn hảo tối hậu. Theo ý định của Thiên Chúa, sự tiến hóa này gồm có việc vật này xuất hiện và vật khác biến đi, có cái hoàn hảo hơn và có cái kém hơn, có xây đắp và cũng có tàn phá trong thiên nhiên. Vì vậy bao lâu mà cuộc sáng tạo chưa đạt được sự trọn hảo của nó, thì cùng với điều tốt thể lý, cũng có sự dữ thể lý (x. T. Tô-ma A-qui-nô, s. gent 3. 71).

311 (396 1849)  Thiên thần và con người là những thụ tạo thông minh và tự do, nên phải tiến về cùng đích bằng một sự lựa chọn tự do và yêu chọn cái tốt hơn. Do đó họ có thể lầm lạc. Trong thực tế, họ đã phạm tội. Như vậy, sự dữ luân lý, vô cùng nghiêm trọng hơn so với sự dữ thể lý, đã xâm nhập vào thế giới. Thiên Chúa không bao giờ là nguyên nhân của sự dữ luân lý, cho dù trực tiếp hay gián tiếp (x. T. Âu-tinh, lib 1, 1, 1; Th. Tô-ma Aqu, s. th, 1-2, 79, 1). Tuy nhiên , vì tôn trọng tự do của thụ tạo, Người để nó xảy ra, và một cách mầu nhiệm, Người biết cách rút lấy điều lành từ sự dữ.

Thiên Chúa Toàn Năng bởi Người tốt lành vô cùng, nên không bao giờ để bất cứ một sự dữ nào xảy ra trong các công trình của Người, nếu Người không đủ quyền năng và lòng nhân lành để rút lấy điều lành từ chính sự dữ (x. T. Âu-tinh, enchir 11, 3).
312 (598-600 1994) Như thế thời gian giúp chúng ta khám phá rằng: Thiên Chúa trong sự quan phòng toàn năng có thể rút sự lành từ hậu qua<150) của một sự dữ, cho dù là sự dữ luân lý do thụ tạo gây nên : "Giu-se nói với anh em : không phải các anh đã đưa đẩy tôi đến đây nhưng là Thiên chúa, ... sự dữ mà các anh đã định làm cho tôi, ý định của Thiên Chúa đã chuyển thành sự lành... để cứu sống một dân đông đảo" (St 45, 8; 50, 20) (x. Tb 2, 12-18 vulg). Từ việc Ít-ra-en chối bỏ và hạ sát Con Thiên Chúa là sự dữ luân lý lớn nhất chưa từng có do tội lỗi của mọi người gây nên, Thiên Chúa đã rút ra được sự lành lớn nhất do sự sung mãn của ân sủng (x. Rm 5, 20): Ðức Ki-tô được tôn vinh và chúng ta được cứu chuộc. Tuy nhiên không vì thế mà cái xấu trở thành cái tốt được.

313 (227)  "Mọi sự đều sinh lợi ích cho ai yêu mến Thiên Chúa" (Rm 8, 28). Chứng từ của các thánh không ngừng xác nhận chân lý nầy :

Thánh Ca-ta-ri-na thành Si-ê-na nói với "những người bất bình và nổi loạn vì những gì xảy đến cho họ": "Tất cả mọi sự đều bởi tình thương mà ra, mọi sự đều được xếp đặt để con người đạt đến ơn cứu độ. Thiên Chúa không làm gì khác ngoài mục đích đó (x. Dial 4, 138).

Trước khi tử đạo ít lâu, Thánh Tô-ma More an ủi con gái mình : "Không gì xảy ra mà không do Chúa muốn. Và tất cả những gì Người muốn, cho dù có vẻ rất xấu đối với chúng ta, vẫn là cái tốt nhất cho chúng ta" (x. Lettre).
 
Bà Giu-li-a-na thành Norwich nói : "Nhờ ơn Chúa, tôi đã học biết phải kiên vững trong đức tin, và tin một cách chắc chắn là tất cả mọi sự sẽ nên tốt... Và rồi bạn sẽ thấy là mọi sự sẽ nên tốt" (x. Rev 32).

314 (1040 2550)  Chúng ta tin vững vàng rằng Thiên Chúa là chủ tể thế giới và lịch sử. Nhưng thường chúng ta không biết được đường lối của Thiên Chúa quan phòng. Chỉ khi nào tới chung cuộc, lúc mà sự hiểu biết phiến diện của chúng ta kết thúc, khi chúng ta thấy Chúa "diện đối diện" (1Cr 13, 12) chúng ta sẽ hiểu biết một cách trọn vẹn các đường lối này, mà Thiên Chúa đã dùng để dẫn đưa cuộc sáng tạo, dù có pha<150)i tra<150)i qua các tha<150)m trạng của sự dữ và tội, tới sự yên nghỉ của ngày Sa-bat (x. St 2, 2) chung cuộc, ngày mà Thiên Chúa đã nhắm đến khi tạo dựng trời và đất.

TÓM LƯỢC

315  Với việc tạo dựng vũ trụ và con người, Thiên Chúa ban cho ta chứng cứ tiên khởi và phổ quát về tình thương toàn năng và sự khôn ngoan của Người, cũng là lời loan báo đầu tiên về "ý định nhân hậu" mà cùng đích là công trình sáng tạo mới trong Ðức Ki-tô.

316  Tuy công trình sáng tạo được coi là của Chúa Cha, nhưng chân lý đức tin cũng dạy : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là nguyên lý duy nhất và không thể phân chia được của công trình sáng tạo.

317  Chỉ có Thiên Chúa mới sáng tạo vũ trụ một cách tự do, trực tiếp, không cần một sự trợ giúp nào.
 
318   Không một thụ tạo nào có được quyền năng vô biên cần thiết để "sáng tạo" theo đúng nghĩa của thuật ngữ đó, nghĩa là làm ra những gì trước đó không có và cho chúng hiện hữu "từ hư không" (DS 3624).

319  Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ để biểu lộ và thông ban vinh quang của Người. Người muốn các thụ tạo được dự phần vào chân thiện mỹ của Người. Ðó là sự vinh quang vì đó mà Người đã tạo dựng nên chúng.

320  Thiên Chúa đã sáng tạo vũ trụ thì cũng duy trì nó nhờ Ngôi Lời, "Người Con dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật" (Dt 1, 3) và nhờ Thánh Thần của Người, Ðấng sáng tạo và ban sự sống.

321  Sự quan phòng chính là Thiên Chúa lo liệu với sự khôn ngoan và tình thương để dẫn đưa mọi thụ tạo tới cùng đích tối hậu của chúng .

322  Ðức Ki-tô mời gọi chúng ta phó thác với tâm tình con thảo vào sự quan phòng của Cha trên trời (x. Mt 6, 26-34). Thánh Phê-rô cũng nhắc : "Mọi lo âu, hãy trút cả cho Người vì Người chăm sóc anh em" (1Pr 5, 7) (x. Tv 55, 23).

323  Thiên Chúa quan phòng cũng hành động qua hành động của các thụ tạo. Thiên Chúa cho con người được tự do cộng tác vào các kế hoạch của Người.

324  Việc Thiên Chúa cho phép có sự dữ thể lý và sự dữ luân lý là một huyền nhiệm mà Thiên Chúa soi sáng nhờ Con của Người là Ðức Giê-su Ki-tô, Ðấng đã chết và sống lại để chiến thắng sự dữ. Ðức tin giúp chúng ta xác tín rằng, Thiên Chúa sẽ không cho phép có sự dữ xảy ra nếu Người không rút được sự lành từ chính sự dữ , bằng những con đường mà chúng ta chỉ biết được trọn vẹn trong đời sống vĩnh cửu.

______________________________________

TIẾT 5: TRỜI VÀ ĐẤT

325  Kinh Tin Kính của các tông đồ tuyên xưng: Thiên Chúa là "Ðấng tạo thành trời và đất"; kinh Tin Kính của Công Ðồng Ni-xê-a Con-tan-ti-nô-pô-li nói thêm... " muôn vật hữu hình và vô hình".

326 (290 1023, 2794) Trong Thánh Kinh, thuật ngữ "trời và đất" có nghĩa là tất cả những gì hiện hữu, là toàn bộ công trình sáng tạo. Thuật ngữ này cũng chỉ mối liên hệ, vừa kết hợp, vừa phân biệt trời với đất : "Ðất" là thế giới của con người; (x. Tv 115, 16) "Trời" hoặc "các tầng trời" có thể chỉ bầu trời (x. Tv 19, 2), nhưng cũng có thể chỉ "nơi" Thiên Chúa ngự : "Lạy Cha chúng con ở trên trời" (Mt 5, 16) (x. Tv 115, 16); do đó, "trời" cũng là vinh quang cánh chung. Sau hết, "trời" chỉ nơi "cư ngụ" của các thụ tạo thiêng liêng tức là các thiên thần vầy quanh Thiên Chúa.

327 (296)   Kinh Tin Kính của Công Ðồng La-tê-ra-nô IV khẳng định Thiên Chúa "ngay lúc khởi đầu, đã tạo dựng từ hư không ca<150) hai loài thụ tạo: loài thiêng liêng và loài có hình thể, nghĩa là các thiên thần và vũ trụ vật chất; kế đến là con người với tính chất của hai loài trên, vừa có tinh thần vừa có thể xác" (DS 800; x. DS 3002 và SPF8).

I. CÁC THIÊN THẦN

Sự hiện hữu của các thiên thần là một chân lý đức tin

328 (150)  Sự hiện hữu của các hữu thể thiêng liêng, không có thể xác, mà Thánh Kinh quen gọi là các thiên thần, là một chân lý đức tin. Thánh Kinh và Thánh Truyền đều nhất trí như thế.

Các thiên thần là ai ?

329  Thánh Âu-tinh nói : "Thiên thần " chỉ chức năng chứ không chỉ bản tính. Xét về bản tính là "thuần linh". Xét về chức năng là "thiên thần". Theo hữu thể, là một thuần linh ; theo hành động, là một thiên thần (x. Tv 103, 1, 15). Tự bản thể, các thiên thần là những tôi tớ và sứ giả của Thiên Chúa. Vì các ngài hằng chiêm ngưỡng "Thánh Nhan Cha Ta ở trên trời" (Mt 18, 10), nên các vị là "những người đi thực hiện Lời Chúa, sẵn sàng phụng lệnh Người" (Tv 103, 20).
330  Với tư cách là thụ tạo thuần linh, các ngài có trí năng và ý chí : các ngài là những thụ tạo có ngôi vị (x. Piô XII : DS 3891) và bất tử (x. Lc 20, 36). Các ngài hoàn hảo hơn mọi thụ tạo hữu hình. Vinh quang rực rỡ của các ngài minh chứng điều ấy (x. Ðn 10, 9-12).

Ðức Ki-tô "với toàn thể các thiên thần của Người"

331 (291) Ðức Ki-tô là trung tâm của thế giới thiên thần. Các thiên thần đều thuộc về Người : "Khi Con Người đến trong vinh quang với toàn thể các thiên thần của Người" (Mt 25, 31). Các thiên thần thuộc về Ðức Ki-tô vì đã được dựng nên nhờ Người và cho Người : "Vì trong Người, muôn vật được tạo thành, trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình : Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới; tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người" (Cl 1, 16). Hơn nữa, các thiên thần còn thuộc về Chúa Ki-tô, vì Người đặt các ngài làm sứ giả thực hiện ý định cứu độ của Người : "Nào tất cả những vị đó không phải là những bậc thiêng liêng được trao cho một trách vụ, được sai đi phục vụ cho những kẻ sẽ được thừa hưởng ơn cứu độ sao ?"(Dt 1, 14).

332  Ngay lúc sáng tạo (G 38, 7) và suốt dòng lịch sư<150) cứu độ, các thiên thần có mặt để loan báo về ơn cứu độ và phục vụ cho việc thực hiện ý định đó. Các thiên thần đóng cửa vườn địa đàng (St 3, 24), bảo vệ ông Lót (St 19), cứu Agar và con của bà (x. St 21, 17), chặn tay Áp-ra-ham (St 22, 11), công bố lề luật cho dân (Cv 7, 53), hướng dẫn dân Chúa (x. Xh 23, 20-23), loan báo những cuộc sinh hạ (x. Thp 13), những ơn gọi (x. Thp 6, 11-24; Is 6, 6), trợ giúp các ngôn sứ (x. 1 V19, 5), đó chỉ là một vài ví dụ. Cuối cùng Thiên Thần Gáp-ri-en đã loan báo việc sinh hạ của vị Tiền hô và của chính Chúa Giê-su (x. Lc 1, 11. 26).

333 (559)  Từ khi nhập thể cho tới khi lên Trời, Ngôi Lời luôn được các thiên thần tôn thờ và phục vụ. "Khi đưa Trưởng Tử vào thế giới loài người, Thiên Chúa nói : "Mọi thiên thần của Thiên Chúa, hết thảy phải tôn thờ Người" (Dt 1, 6). Lời ca tụng của các thiên thần khi Chúa Ki-tô giáng sinh không ngừng vang lên trong lời ca tụng của Hội Thánh : "Vinh danh Thiên Chúa... " (Lc 2, 14). Các thiên thần bảo vệ Ðức Giê-su khi thơ ấu (x. Mt 1, 20; 2, 13. 19), phục vụ Người trong hoang địa (x. Mt 4, 11; Mc 1, 12), động viên Người trong cơn lo sợ trước cái chết (x. Lc 22, 43), dù có thể cứu Người khỏi tay các kẻ thù (x. Mt 26, 53), như đã cứu dân It-ra-en xưa (x. 2Mcb 10, 29-30 ; 11, 8). Chính các thiên thần "rao truyền phúc âm" (Lc 2, 10) khi loan báo Tin Mừng Nhập Thể (x. Lc 2, 8-14) và Phục sinh (x. Mc 16, 5-7) của Ðức Ki-tô. Các ngài loan báo Ðức Ki-tô quang lâm (x. Cv 1, 10-11), và khi Người đến, các ngài có mặt để giúp Người trong cuộc thẩm phán (x. Mt 13, 41; 24, 31;Lc 12, 8-9).

Các thiên thần trong đời sống Hội Thánh

334 Cho tới ngày Chúa quang lâm, tất cả đời sống Hội Thánh hưởng nhờ sự trợ giúp âm thầm và hữu hiệu của các thiên thần (x. Cv 5, 18-20; 8, 26-29; 10, 3-8; 12, 6-11; 27, 23-25).

335 (1138)  Trong phụng vụ, Hội Thánh liên kết với các thiên thần để tôn thờ Thiên Chúa ngàn trùng Chí Thánh (x. MR "Sanctus"). Hội Thánh khẩn cầu các thiên thần trợ giúp trong bài "Xin các thiên thần Chúa dẫn đưa bạn về thiên đàng... " của phụng vụ cầu cho tín hữu qua đời, hoặc trong "Thánh Thi Thiên Thần" của phụng vụ Bi-dan-tin, và đặc biệt kính nhớ một số thiên thần như Thánh Mi-ca-e, Gáp-ri-en, Ra-pha-en, các thiên thần hộ thủ.

336 (1020)  Các thiên thần gìn giữ (x. Mt 18, 10) và cầu bàu cho ta (x. Lc 16, 22) từ lúc khơ<150)i đầu (hiện hữu) (x. Tv 34, 8;91, 10-13) cho đến lúc chết (x. G 33, 23-24; Gia. 1, 12; Tb 12, 12). "Mỗi tín hữu đều có một thiên thần hộ thủ để bảo trợ, và hướng dẫn đến sự sống đời đời (Th. Ba-si-li-ô, Eun 3, 1"). Ngay tại thế, trong đức tin, đời sống Ki-tô hữu được tham dự vào cộng đoàn diễm phúc của các thiên thần và loài người được hợp nhất trong Thiên Chúa.

II. THẾ GIỚI HỮU HÌNH

337 (290 293)  Chính Thiên Chúa đã sáng tạo thế giới hữu hình với sự phong phú, đa dạng và trật tự của nó. Thánh Kinh trình bày cách biểu trưng công trình của Ðấng Sáng Tạo như một chuỗi sáu ngày "lao động" của Thiên Chúa và hoàn tất với sự "nghỉ ngơi" vào ngày thứ bảy (St 1, 1-2, 4). Về việc sáng tạo, Thánh Kinh dạy những chân lý đã được Thiên Chúa mặc khải vì ơn cứu độ chúng ta (x. DV 11), giúp chúng ta "nhận ra bản chất sâu xa cũng như giá trị và cùng đích của sáng tạo. Cùng đích nầy là vinh quang của Thiên Chúa" (LG 36).

338 (297) Không có gì hiện hữu mà không do Thiên Chúa sáng tạo . Vũ trụ bắt đầu khi Lời Thiên Chúa tạo dựng nó từ hư không. Tất cả mọi hiện hữu, toàn bộ thiên nhiên, toàn bộ lịch sử loài người đều bắt nguồn từ biến cố tiên khởi đó: đây là khởi điểm hình thành thế giới và bắt đầu thời gian (x. Th. Âu-cơ-tinh, Gen. Man. 1, 2, 4).  

339 (2501 299 226)  Mỗi thụ tạo, đều có sự tốt lành và hoàn hảo riêng. Về mỗi công trình của "sáu ngày", Sách Thánh viết : "Và Thiên Chúa thấy thế là tốt". Chính vì được sáng tạo, mà mọi vật đều có sự vững chãi, chân thật và tốt lành cùng những định luật và trật tự riêng" (GS 36, 2). Theo ý Thiên Chúa, các thụ tạo khác nhau đều phản chiếu một chút sự khôn ngoan và sự tốt lành vô biên của Thiên Chúa, mỗi thụ tạo một cách. Chính vì thế con người phải tôn trọng sự tốt lành riêng của từng thụ tạo để tránh sử dụng nó một cách bừa bãi, nếu không con người sẽ coi thường Ðấng Tạo Hóa và kéo theo nhiều hậu quả nguy hại cho mình và môi sinh .

340 (1937) Thiên Chúa muốn các thụ tạo lệ thuộc lẫn nhau. Mặt trời, mặt trăng, cây cối với bông hoa, phượng hoàng và chim sẻ: cảnh thiên hình vạn trạng của sự vật lớn nhỏ khác nhau nói lên rằng không thụ tạo nào có thể tự túc, nhưng tùy thuộc vào nhau, để bổ túc và phục vụ lẫn nhau.

341 (283 2500)  Vẻ đẹp của vũ tru<139) : Trật tự và sự hài hòa của thế giới xuất phát từ sự đa dạng và mối liên hệ giữa các thụ tạo. Con người dần dần phát hiện những điều ấy như là quy luật của thiên nhiên. Chúng làm các nhà thông thái phải thán phục. Vẻ đẹp của thụ tạo phản chiếu vẻ đẹp vô biên của Ðấng Sáng Tạo. Vẻ đẹp này phải gợi lên nơi trí khôn và ý chí của con người sự kính trọng và phục tùng .

342 (310) Phẩm trật các thụ tạo được diễn tả qua thứ tự của "sáu ngày", từ vật kém hoàn hảo tới bậc hoàn hảo hơn. Thiên Chúa thương yêu tất cả các thụ tạo (x. Tv 145, 9) và chăm sóc mỗi vật, ngay cả những con chim sẻ bé nhỏ. Về con người, Chúa Giê-su nói : "Chúng con còn đáng giá hơn cả muôn ngàn chim sẻ" (Lc 12, 6-7), "Người thì quí hơn chiên biết mấy" (Mt 12, 12).

343 (355)  Con người là chóp đỉnh của công trình sáng tạo. Trình thuật Sáng Thế diễn tả điều đó, khi phân biệt rõ ràng việc sáng tạo con người với việc sáng tạo các loài khác (x. St 1, 26).

344 (293, 1939 2416)  Tất cả các thụ tạo liên đới với nhau, vì xuất phát từ một Ðấng Sáng Tạo, và vì tất cả đều được sắp đặt để làm vinh danh Thiên Chúa:

Chúc tụng Ngài, lạy Chúa, nơi tất cả các thụ tạo của Ngài;

đặc biệt là anh Mặt Trời. Nơi anh, Chúa cho chúng con ánh sáng ban ngày, Anh rất đẹp, tỏa chiếu ánh huy hoàng lớn lao. Anh cho chúng con một biểu tượng về Ngài, lạy Ðấng Tối Cao.

(1218) Chúc tụng Ngài, lạy Chúa, vì chị Nước, Chị rất hữu ích và rất khiêm tốn. đáng quí và thanh khiết...

Chúc tụng Ngài, lạy Chúa, vì người mẹ chúng con là Trái Ðất, cưu mang và nuôi chúng con, sản xuất các loài trái khác nhau. với bông hoa lóng lánh và rực rỡ cỏ xanh...

Hãy chúc tụng và ngợi khen Chúa, Hãy tạ ơn Người và phụng sự Người với lòng khiêm tốn (Th. Phan-xi-cô thành A-xi-xi, Trường ca tạo vật).

345 (2168)  Ngày Sa-bat kết thúc "sáu ngày" làm việc. Sách Thánh nói : "Ngày thứ bảy, Người kết thúc công việc đã làm", như vậy "trời và đất đã hoàn tất". Ngày thứ bảy Thiên Chúa "nghỉ việc", Người thánh hóa và chúc lành cho ngày đó (St 2, 1-3). Những lời được linh hứng trên đây chứa đựng rất nhiều giáo huấn có giá trị cứu độ :

346 (2169) Trong công trình sáng tạo, Thiên Chúa đặt một nền móng và những qui luật trường tồn (x. Dt 4, 3-4). Người tín hữu có thể tin tưởng nương tựa vào đó. Ðó là dấu chỉ và bảo chứng về lòng trung tín không hề lay chuyển của Thiên Chúa đối với Giao Ước (x. Gr 31, 35-37;33, 19-26). Về phần mình, con người phải trung thành với nền móng này và tôn trọng những qui luật mà Ðấng Sáng Tạo đã khắc ghi trên đó.

347 (1145-1152) Công trình sáng tạo hướng về ngày sa-bát, tức là nhắm đến việc phụng thờ và tôn vinh Thiên Chúa. Việc phụng thờ được khắc ghi trong trật tự của công trình sáng tạo. Luật dòng Thánh Biển Ðức có ghi : "Việc phụng thờ Thiên Chúa là việc tối thượng không còn việc gì quan trọng hơn". Ðấy là trật tự đúng đắn cho mọi bận tâm của con người.

348 (2172) Ngày sa-bát là tâm điểm của lề luật Ít-ra-en. Tuân giữ các giới răn là sống theo sự khôn ngoan và ý muốn của Thiên Chúa được diễn tả trong công cuộc sáng tạo.

349 (2174 1046)  Ngày thứ tám, một ngày mới đã rực sáng cho chúng ta : ngày Ðức Ki-tô Sống Lại. Nếu ngày thứ bảy hoàn tất cuộc sáng tạo thứ nhất, thì ngày thứ tám khởi đầu cuộc sáng tạo mới. Như vậy, công trình sáng tạo chỉ đạt tới tột đỉnh trong công trình còn lớn lao hơn nữa là ơn cứu chuộc. Cuộc sáng tạo thứ nhất đã tìm ra ý nghĩa và đạt tới đỉnh cao trong cuộc sáng tạo mới nơi Chúa Ki-tô, sự rực rỡ của sáng tạo mới này vượt xa vẻ huy hoàng của sáng tạo trước (x. MR, Vọng phục sinh 24: lời nguyện sau bài đọc I).

TÓM LƯỢC

350  Thiên thần là những thụ tạo thiêng liêng hằng tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ các ý định cứu độ của Người dành cho các thụ tạo khác : "Các thiên thần cộng tác trong mọi việc lành cho chúng ta" (Th. Tô-ma A-qui-no tổng luận. 1, 114, 3 ad 3).

351 Các thiên thần vây quanh Ðức Ki-tô là Chúa mình. Các vị phục vụ Người, đặc biệt trong việc hoàn thành sứ mạng cứu độ nhân loại.

352  Hội Thánh tôn kính các thiên thần, vì các ngài trợ giúp Hội Thánh trong cuộc lữ hành trần thế và bảo vệ hết mọi người.
353  Thiên Chúa muốn có các thụ tạo khác biệt nhau, mỗi loài có sự tốt lành riêng của mình. Chúng phải lệ thuộc nhau và tuân theo trật tự của chúng. Tất cả các thụ tạo vật chất là để mưu ích cho con người. Con người, và tất cả vạn vật, nhờ con người, phải làm vinh danh Thiên Chúa.

354 Tôn trọng các qui luật được ghi khắc trong công trình sáng tạo và những tương quan xuất phát từ bản tính muôn vật, là một nguyên tắc của sự khôn ngoan và là một nền tảng của luân lý.

______________________________________

TIẾT 6: CON NGƯỜI

355 (1700, 343) "Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình; Người sáng tạo họ theo hình ảnh Thiên Chúa. Người sáng tạo họ có nam có nữ" (St 1, 27). Con người giữ một địa vị độc tôn trong công trình sáng tạo: con người là "hình ảnh của Thiên Chúa" (I); trong bản tính của mình, con người hợp nhất thế giới thiêng liêng và thế giới vật chất (II); con người được tạo dựng "có nam có nữ" (III); Thiên Chúa cho họ sống thân tình với Người (IV).

 

I. "THEO HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚA"


356 (1703 2258, 225) Trong tất cả các thụ tạo hữu hình, chỉ con người là "có khả năng hiểu biết và yêu mến Tạo Hóa" (x. GS 12, 3). Con người là "thụ tạo duy nhất trên trái đất được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ" (x. GS 24, 3) ; chỉ con người, nhờ sự hiểu biết và tình thương, được mời gọi chia sẻ sự sống của Thiên Chúa. Con người được tạo dựng vì mục đích ấy, và đó là lý do căn bản của phẩm giá con người :


295 Vì sao Ngài đã dựng con người với phẩm giá cao trọng như vậy ? Với tình thương vô biên, Ngài đã nhìn ngắm thụ tạo nơi chính mình và say mê nó. Vì thương yêu, Ngài đã tạo ra nó; vì thương yêu, Ngài cho nó khả năng hưởng phúc vĩnh cửu (Th. Ca-ta-ri-na thành Si-en-na, dial 4, 13).

357 (1935 1877) Vì con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, nên có phẩm giá là một nhân vị. Không phải là một sự vật mà là một con người. Con người có khả năng tự biết mình, tự làm chủ chính mình và tự do tự hiến và thông hiệp với những người khác. Do ân sủng, mỗi nguời được mời để giao ước với Ðấng Sáng Tạo, dâng lên Người một lời đáp trả tin yêu mà không ai có thể thay thế được.

358 (299, 901) Thiên Chúa đã sáng tạo mọi sự cho con người (x. GS 12, 1; 24, 3; 39, 1); còn con người được sáng tạo để phụng sự, yêu mến Thiên Chúa và dâng lên Người tất cả thụ tạo :

Hữu thể nào trong cõi dương gian được quan tâm dường ấy? Ðó là con người, một khuôn mặt sống động lớn lao, kỳ diệu, mà dưới mắt Thiên Chúa còn quí giá hơn cả toàn thể vạn vật. Ðó là con người, vì con người mà trời, đất, biển rộng và toàn thể vạn vật được hiện hữu, và vì tha thiết muốn cứu độ con người, nên Thiên Chúa đã không tiếc ban cả Con duy nhất của Người cho họ. Thiên Chúa không ngừng điều động mọi sự để nâng con người lên tới Thiên Chúa và đặt con người ngồi bên hữu Thiên Chúa (Th. Gio-an Kim khẩu, bài gia<150)ng St 2, 1). 
359 (1701) "Chỉ có mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể mới có thể làm sáng tỏ mầu nhiệm con người" (GS 22, 1): 
388 (411) Thánh Phao-lô cho chúng ta biết có hai người là nguồn gốc của nhân loại : A-đam và Ðức Ki-tô... "A-đam thứ nhất được tạo dựng như là một con người lãnh nhận sự sống. Còn Người kia là Ðấng thiêng liêng ban sự sống. Người thứ nhất được tạo dựng do bởi người kia, do Ðấng này, người thứ nhất lãnh nhận linh hồn làm cho sống... Khi tạo thành A-đam thứ nhất, A-đam thứ hai đã khắc ghi hình ảnh mình trong đó. Do đó A-đam thứ hai đã lãnh nhận vai trò và tên của A-đam thứ nhất, để không bỏ mất những gì đã được tạo dựng theo hình ảnh của mình. A-đam đầu, A-đam cuối : người trước đã có khởi đầu, người sau sẽ tồn tại mãi mãi. Vì Người sau mới thực là Người đầu, như chính Người đã nói về mình: "Ta là Ðầu và là Cuối" (T. Phê-rô Kim Ngôn, bài gia<150)ng 117).  
360 (225, 404, 775, 831 842) Vì cùng xuất phát từ một nguồn gốc chung, nhân loại tạo thành một thể thống nhất. "Từ một người duy nhất, Thiên Chúa đã tạo thành toàn thể nhân loại" (Cv 17, 26) (x. Tb 8, 6):

Thật là kỳ diệu, khi ta nhìn ngắm nhân loại cùng có chung một nguồn gốc nơi Thiên Chúa... ; cùng có chung một bản tính, được cấu tạo như nhau và một thể xác vật chất và một linh hồn thiêng liêng; cùng có chung một mục đích trực tiếp và một sứ mệnh trong thế giới; cùng có chung một nơi cư ngụ là trái đất với những của cải, mà mọi người, do quyền tự nhiên của mình đều có quyền sử dụng để nuôi dưỡng và phát triển sự sống; cùng có chung về một cùng đích siêu nhiên là chính Thiên Chúa, mà tất cả đều phải qui hướng về Người; cùng có chung những phương thế để đạt tới cùng đích đó; cùng có chung ơn cứu độ mà Ðức Ki-tô đã thực hiện cho mọi người
(Pi-ô XII enc. " summi pontificatus"; x. NA 1).

361 (1939) "Luật liên đới và bác ái này đa<150)m ba<150)o rằng mọi người thực sự đều là anh em" (Ibid) cho dù có nhiều khác biệt phong phú giữa các con người cá nhân, các nền văn hóa, các dân tộc.

II. "CON NGƯỜI LÀ MỘT THỰC THỂ ÐƠN NHẤT GỒM HỒN VÀ XÁC "

362 (1146, 2332) Ðược tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, con người là một hữu thể vừa thể xác vừa tinh thần. Trình thuật Thánh Kinh diễn tả thực tại đó với một ngôn ngữ biểu tượng khi khẳng định rằng "Thiên Chúa lấy đất sét nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật"(St 2, 7). Con người toàn diện được dựng nên do ý muốn của Thiên Chúa.

363 (1703)  Thánh Kinh thường dùng thuật ngữ linh hồn để chỉ sự sống con người (x. Mt 16, 25-26; Ga 15, 13) hoặc toàn diện con người (Cv 2, 41). Nhưng cũng dùng để chỉ cái thâm sâu nhất (Mt 26-38), giá trị nhất nơi con người (x. Mt 10, 28; 2Mca 6, 30), nhờ đó con người là hình ảnh Thiên Chúa cách đặc biệt : "linh hồn" là nguyên lý thuần linh nơi con người.

364  (1004) Thân xác cũng được dự phần vào phẩm giá của con người là "hình ảnh của Thiên Chúa": nó là thân xác con người chính vì được linh hồn thiêng liêng làm cho sinh động. Và chính con người toàn diện được đặt định trở nên đền thờ Chúa Thánh Thần, trong Thân Thể Chúa Ki-tô
(x. 1Cr 6, 19-20; 15, 44 - 45).

2289  Tuy gồm xác và hồn, nhưng là một thực thể duy nhất, con người, nhờ có thể xác, qui tụ nơi mình những yếu tố thuộc thế giới vật chất. Nơi con người, các yếu tố ấy đạt tới tuyệt đỉnh của chúng và có thể tự do dâng lời ca tụng Ðấng Tạo Hóa. Vậy con người không được khinh miệt đời sống thể xác, nhưng trái lại, con người phải coi thân xác mình là tốt đẹp và đáng tôn trọng vì thân xác ấy do Thiên Chúa tạo dựng và phải được sống lại ngày sau hết (GS 14, 1).
365  Sự thống nhất xác hồn thâm sâu đến độ ta phải coi linh hồn như là "mô thể" của thân xác (x. Cđ Vienne 1312: DS 902); nghĩa là, nhờ linh hồn thiêng liêng mà thân xác được cấu tạo từ vật chất, thành một thân xác của con người sống động. Trong con người, tinh thần và vật chất không phải là hai bản tính được nối kết lại, nhưng sự kết hợp của chúng tạo thành một bản tính duy nhất.

366 (1005 997) Hội Thánh dạy rằng mỗi linh hồn thiêng liêng được Thiên Chúa trực tiếp tạo dựng (x. Pi-ô XII, trong. "Humani Generis", 1950: DS 3896;SPF 8) chứ không phải do cha mẹ "sản sinh": Hội Thánh cũng dạy rằng, linh hồn bất tử (x. Cđ La-tran năm. 1513; DS 1440), không hư mất khi lìa khỏi xác trong giờ chết, và sẽ tái hợp trơ<150) lại với thân xác trong ngày phục sinh cánh chung.

367 (2083) Ðôi khi linh hồn được phân biệt với tinh thần. Thánh Phao-lô cầu nguyện để "trọn con người chúng ta: tinh thần, linh hồn và thân xác" được hồng ân nâng đỡ, giữ gìn, không có điều gì đáng chê trách vào ngày Chúa Quang Lâm (1Th 5, 23). Hội Thánh dạyrằng sự phân biệt này không đem lại sự nhị phân trong linh hồn (x. Cđ Con-tan-ti-nô-pô-li IV năm 870: DS 657). Thuật ngữ "tinh thần" muốn nói là con người, ngay từ khi tạo dựng, đã được Thiên Chúa qui hướng về cùng đích siêu nhiên (x. Cđ Va-ti-can I:DS 3005;x. GS 22, 5), và linh hồn nhờ ơn su<150)ng được nâng lên để kết hợp với Người (x. Pi-ô XII, Enc "Humari Generis", 1950; DS 3891).

368 (478, 582 1431, 1764 2517, 2562)  Truyền thống linh đạo của Hội Thánh cũng nhấn mạnh đến tim. Theo nghĩa Kinh Thánh, tim là "đáy lòng con người" (Gr 31, 33), từ nơi đó họ sẽ quyết định chọn Thiên Chúa hay không (x. Dt 6, 5; 29, 3; Is 29, 13; Ed 36, 26; Mt 6, 21; Lc 8, 15; Rm 5, 5).

III. "THIÊN CHÚA SÁNG TẠO CON NGƯỜICÓ NAM CÓ NỮ"

Thiên Chúa muốn con người bình đẳng nhưng khác biệt nhau

369  Người nam và người nữ được sáng tạo, nghĩa là họ hiện hữu do ý muốn của Thiên Chúa : một mặt họ hoàn toàn bình đẳng với tư cách là những nhân vị mặt khác, họ là nam và là nữ theo cách hiện hữu riêng. "Là nam", "là nữ" đều là thực tại tốt lành do ý muốn của Thiên Chúa : người nam và người nữ có một phẩm giá không thể mất được, do Thiên Chúa, Ðấng Sáng Tạo trực tiếp ban cho (x. St 2, 7. 22). Người nam và người nữ có cùng một phẩm giá "là hình ảnh của Thiên Chúa". "Là người nam" hay "là người nữ", họ đều phản ánh sự khôn ngoan và sự tốt lành nhân hậu của Ðấng Sáng Tạo .

370 (42, 239)  Ðừng diễn ta<150) Thiên Chúa theo hình ảnh loài người. Người không là nam, cũng không là nữ. Thiên Chúa thuần linh, không có sự phân biệt phái tính. Những "nét hoàn hảo" của người nam và người nữ, của người me (x. Is 49, 14-15; 66, 13; Tv 131, 2-3)<139), người cha, của đôi vợ chồng (x. Hs 11, 1-4; Gr 3, 4-19) phản ánh phần nào sự trọn hảo vô biên của Thiên Chúa. <MS)

"Cho nhau" _ "Tuy hai mà một"

371  (1605)  Khi tạo dựng con người"có nam có nữ", Thiên Chúa muốn họ sống cho nhau. Chúng ta biết điều này qua một số câu Sách Thánh : "Người nam ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó" (St 2, 18). Không một con vật nào có thể tương xứng với con người (St 2, 19-20). Thiên Chúa lấy xương sườn người nam tạo thành người nữ và dẫn đến cho người nam; vừa trông thấy người nữ, người nam phải thốt lên một tiếng thán phục, một lời reo mừng đầy yêu thương và thông hiệp : "Ðây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi" (St 2, 23). Người nam nhận ra người nữ như một " cái tôi" khác, một đồng loại.

372  (1652, 2366)  Người nam, và người nữ được tạo dựng "cho nhau": không phải Thiên Chúa đã sáng tạo họ "chỉ có một nư<150)a" hay "không đầy đủ " nhưng tạo dựng họ để hiệp thông với nhau, để mỗi người có thể thành "trợ tá" cho nhau; vì một đàng, họ là những con người bình đẳng với nhau ("xương của xương tôi... ") và đàng khác, bổ túc cho nhau vì là nam và là nữ. Trong hôn nhân, Thiên Chúa kết hợp họ, để khi thành"một xương một thịt" (St 2, 24), họ có thể truyền lại sự sống con người : " Hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều, cho đầy mặt đất" (St 1, 28). Khi truyền lại sự sống con người cho dòng dõi mình, người nam và người nữ với tư cách là vợ chồng và cha mẹ, cộng tác một cách độc đáo vào công trình của Ðấng Sáng Tạo (GS 50, 1).

373 (307 2415)  Theo ý định của Thiên Chúa, người nam và người nữ được đặt "làm chủ" trái đất (St 1, 28) như những "người quản lý" của Thiên Chúa. Quyền làm chu<150) này không được trơ<180) thành một sự thống trị độc đoán và phá hoại. Vì là hình ảnh của Ðấng Sáng Tạo, "Ðấng yêu thương tất cả những gì hiện hữu"(Kn 11, 24), người nam và người nữ được gọi tham dự vào sự quan phòng của Thiên Chúa đối với các thụ tạo khác. Do đó, họ có trách nhiệm với thế giới mà Thiên Chúa giao phó cho họ.

IV. CON NGƯỜI TRONG VƯỜN ÐỊA ÐÀNG

374 (54) Con người đầu tiên không phải chỉ được sáng tạo tốt lành mà thôi, nhưng còn được đặt trong tình thân với Ðấng Tạo Hóa, hài hòa với chính mình và với vạn vật xung quanh. Tình thân và sự hài hòa này chỉ thua kém vinh quang của sáng tạo mới trong Ðức Ki-tô.

375 (1997)  Khi dùng quyền giải thích một cách chân chính ngôn ngữ biểu tượng của Thánh Kinh dưới ánh sáng Tân Ước và Truyền Thống Hội Thánh, Hội Thánh dạy rằng : nguyên tổ A-đam và E-và đã được sáng tạo trong một tình trạng "thánh thiện và công chính nguyên thủy" (x. Cđ Tren-te: DS 1511). Sự thánh thiện nguyên thủy ấy là "ơn được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa"(LG 2).

376   (1008, 1502) Mọi chiều kích của đời sống con người được củng cố nhờ sự chiếu tỏa ân sủng này. Bao lâu còn sống mật thiết với Thiên Chúa, con người sẽ không phải chết (x. St 2, 17; 3, 19), cũng không phải đau khổ (x. St 3, 16). Sự hài hòa nội tâm nơi mỗi con người, sự hài hòa giữa người nam và người nữ (x. St 2, 25), sau hết sự hài hòa giữa đôi vợ chồng đầu tiên với toàn thể vạn vật, tạo nên tình trạng được gọi là "sự công chính nguyên thủy".

377 (2514)  Quyền làm chủ trái đất mà Thiên Chúa đã ban cho con người ngay từ thuở ban đầu, được thực hiện trước tiên nơi con người, là việc làm chủ chính bản thân mình. Con người còn nguyên tuyền và hài hòa trong chính bản thân, vì còn tự do đối với ba thứ dục tình thường làm con người nô lệ các lạc thú<151) của giác quan, sự ham mê của cải thế gian và đề cao "cái tôi" bất chấp những đòi hỏi của lý trí.

378 (2415, 2427) Dấu hiệu của sự thân thiện với Thiên Chúa là việc đặt con người trong vườn địa đàng (x. St 2, 8). Conngười sống ơ<150) đó "để canh tác và canh gìn giữ đất đai"(St 2, 15). Lao động không phải là một hình khổ (x. St 3, 17-19), nhưng là sự cộng tác của người nam va<179) người nữ với Thiên Chúa trong việc kiện toàn vạn vật hữu hình.

379  Ðó là tất cả sự hài hòa của tình trạng công chính nguyên thủy mà ý định của Thiên Chúa đã dành sẵn cho con người. Sự hài hòa này sẽ mất đi vì tội của nguyên tổ chúng ta.

TÓM LƯỢC

380  "Lạy Cha, Cha đã dựng nên con người giống hình ảnh Cha, và giao cho họ trách nhiệm trông coi vũ trụ, để khi phụng sự một mình Cha là Ðấng tạo hóa, con người làm chủ mọi loài thọ sinh" (MR, kinh Tạ ơn IV, 118) .

381 Con người được tiền định để họa lại hình ảnh của Con Thiên Chúa làm người - "hình ảnh của Thiên Chúa vô hình" (Cl 1, 15) hầu Chúa Ki-tô trở nên trưởng tử của muôn vàn anh chị em (x. Ep 1, 3-6; Rm 8, 29).

382 Con người là "một thực thể đơn nhất gồm hồn và xác" (GS 14, 1). Giáo lý đức tin khẳng định : linh hồn thiêng liêng và bất tử, được Thiên Chúa trực tiếp sáng tạo .

383   Thiên Chúa không tạo dựng con người đơn độc : từ khởi nguyên, "Người đã tạo nên họ có nam có nữ" (St 1, 27); sự liên kết giữa họ đã tạo nên xã hội đầu tiên của con người (GS 12, 4)".

384  Mặc khải cho chúng ta biết tình trạng thánh thiện và công chính nguyên thủy của người nam và người nữ trước khi phạm tội: cuộc sống hạnh phúc của con người trong vườn địa đàng bắt nguồn từ tình thân với Thiên Chúa.

______________________________________

TIẾT 7: SỰ SA NGÃ

385 (309 457 1848 539)  Thiên Chúa vô cùng tốt lành nên mọi công trình của Người đều tốt đẹp. Tuy nhiên, không ai thoát được kinh nghiệm về đau khổ, về những sự dữ trong thiên nhiên, những sự dữ này hình như gắn liền với các giới hạn riêng của loài thụ tạo, và nhất là sự dữ luân lý. Sự dữ từ đâu đến? Thánh Âu-tinh nói : "Tôi đã tìm căn nguyên của sự dữ và tôi không thấy có giải đáp nào" (x. Conf 7, 7, ll), và cuộc tìm kiếm đau thương của thánh nhân chỉ tìm được lối thoát lúc người hoán cải trở về với Thiên Chúa hằng sống. Vì "mầu nhiệm của sự gian ác" (2 Tx 2, 7) chỉ được sáng tỏ qua "mầu nhiệm của lòng thành tín" (l Tm 3, l6). Tình yêu của Thiên Chúa được mặc khải trong Ðức Ki-tô đã biểu lộ một trật cả trương độ của sự dữ và sự vĩ đại của ân sủng (x. Rm 5, 20). Vậy chúng ta phải nghiệm xét vấn đề căn nguyên sự dữ với đôi mắt đức tin hướng về Ðấng duy nhất đã chiến thắng nó (x. Lc. ll, 2l-22; Ga l6, ll; lGa 3, 8).

I. NƠI ÐÂU TỘI LỖI NGẬP TRÀN, Ở ÐẤY CHỨA CHAN ÂN SỦNG

Thực tại của tội lỗi

386 (1847) TộI lỗi hiện diện trong lịch sử loài người. Thật là vô ích khi kiếm cách làm ngơ hoặc tránh né thực tại bi đát này bằng cách gán cho nó những tên khác. Muốn hiểu tội là gì, trước tiên phải nhận chân mối tương quan mật thiết giữa con người với Thiên Chúa. Bởi vì, ngoài mối tương quan đó, chúng ta không thể hiểu căn tính đích thực của tội là chối bỏ và chống đối Thiên Chúa, cho dù tội lỗi vẫn đè nặng trên đời sống và lịch sử của con người.

387 (1848 1739)  Thực tại của tội lỗi, nhất là của nguyên tội, chỉ có thể hiểu được trong ánh sáng mặc khải của Thiên Chúa. Mặc khải này giúp ta nhận biết Thiên Chúa; không có mặc kha<150)i này ta không thể nhận chân tội lỗi là gì và sẽ tìm cách giải thích nó như một khiếm khuyết trong quá trình phát triển, một nhược điểm tâm lý, một sai lầm hoặc là hậu quả tất yếu của một cơ cấu xã hội không tương xứng v. v... Chỉ khi nào nhận biết được ý định của Thiên Chúa về con người, lúc đó người ta mới hiểu tội là lạm dụng sự tự do Chúa ban cho con người được sáng tạo để yêu mến Chúa và yêu mến nhau.

Nguyên tội - một chân lý chính yếu của đức tin

388 (431 208 359 729)  Qua quá trình mặc khải, người ta hiểu rõ thực tại của tội hơn. Mặc dầu trong Cựu ước, dân Thiên Chúa đã đề cập đến thân phận đau thương của kiếp người qua ánh sáng lịch sử của sự sa ngã được thuật lại trong sách Sáng Thế, họ vẫn không thể nắm bắt được ý nghĩa tối hậu của lịch sử đó; lịch sử này chỉ được bày tỏ trong ánh sáng của sự chết và phục sinh của Ðức Giê-su Ki-tô mà thôi. Phải biết Ðức Ki-tô là nguồn ân sủng mới nhận ra A-đam là căn nguyên của tội lỗi. Ðược Ðức Ki-tô Phục sinh cử đến, Chúa Thánh Thần - Ðấng Bào Chữa đã "tố cáo tội lỗi thế gian" (Ga l6, 8) bằng cách mặc khải Ðấng Chuộc Tội.

389 (422) Có thể nói giáo lý về nguyên tội là "mặt trái" của Tin Mừng loan truyền Ðức Giê-su là Ðấng Cứu thế, mọi người đều cần được cứu độ và ơn cứu độ được ban cho tất cả nhờ Ðức Ki-tô. Nhờ có cảm thức về Ðức Ki-tô (x. lCr. 2, l6), Hội Thánh biết rõ không thể động chạm đến mặc khải về nguyên tội mà không động chạm đến Mầu Nhiệm Ðức Ki-tô.

Ðể hiểu trình thuật về sự sa ngã

390 (289)  Trình thuật về sự sa ngã (St 3) sử dụng một ngôn ngữ tượng hình, nhưng xác định một biến cố hàng đầu xảy ra vào thời khởi nguyên lịch sử nhân loại(x. GS l3, l). Mặc khải giúp chúng ta xác tín rằng tất cả lịch sử nhân loại đều mang dấu tích nguyên tội mà nguyên tổ đã cố tình phạm (x. Cđ. Tren-tô: DS l5l3 ; Pi-ô XII; DS 3897; Phao-lô VI bài giảng ll/7/ l966).

II. SỰ SA NGÃ CỦA CÁC THIÊN THẦN

391 (2538)  Ðằng sau sự lựa chọn bất tuân của các nguyên tổ có một tiếng gọi quyến rũ chống lại Thiên Chúa (x. St 3, l-5), vì ganh tị với con người, đã đưa nguyên tổ sa vào cõi chết (x. St 2, 24). Thánh Kinh và Truyền Thống của Hội Thánh đã cho nhân vật đó là một thiên thần sa ngã gọi là Xa-tan hay ma quỷ (x. Ga 8, 44; Kh 12, 9). Hội Thánh dạy rằng thoạt đầu đó là một thiên thần tốt do Thiên Chúa tác tạo. "Chắc chắn quỷ dữ và các thứ ma quỷ khác đều được Thiên Chúa sáng tạo với bản tính tốt lành, nhưng tự chúng đã trở nên xấu" (x. Cđ. La-tran IV năm 1215 : DS 800).

392 (1850 2482)  Kinh Thánh có nói đến một tội của các thiên thần này (x. 2Pr 2, 4). Việc sa ngã là do các thụ tạo thuần linh ấy đã tự do chọn lựa từ chối Thiên Chúa và Vương Triều của Người cách triệt để và dứt khoát. Cuộc nổi loạn này được phản ánh trong lời của tên cám dỗ nói với các nguyên tổ : "Các người sẽ trở nên như Thiên Chúa" (St 3, 5). Ma quỷ là kẻ "phạm tội ngay từ thuở sơ khai" (l Ga 3, 8), là "cha sự dối trá"
(Ga 8, 44).

393 (1033- 1037 1022)  Không phải vì Thiên Chúa thiếu lòng thương xót nhưng vì các thiên thần ấy đã chọn lựa dứt khoát, cho nên tội của họ không thể tha thứ được. "Sau khi sa ngã, các thiên thần không còn có thể hối cải, cũng như con người không thể ăn năn sám hối sau khi chết" (T. Gio-an Ða-ma-sô f. o. 2, 4).

394 (538- 540 550 2846- 2849)  Thánh Kinh xác nhận ảnh hưởng tai hại của kẻ mà Ðức Giê-su gọi là "tên sát nhân ngay từ lúc sơ khai"(Ga 8, 44), kẻ đã xúi giục Người bỏ sứ mệnh Chúa Cha trao phó (x. Mt 4, l-ll). "Sở dĩ Con Thiên Chúa xuất hiện là để phá hủy công việc của ma quỷ" (l Ga 3, 8). Ðiều tai hại nhất trong các công việc của ma quỷ là dùng sự dối trá để quyến rũ con người bất tuân Thiên Chúa.

395 (309 1673 412, 2850- 2854)  Thế nhưng sức mạnh của Xa-tan không phải là vô hạn. Nó chỉ là một thụ tạo, có sức mạnh vì là thuần linh nhưng vẫn là thụ tạo: nó không thể ngăn chặn công trình xây dựng Vương Triều của Thiên Chúa. Xa-tan hành động nơi trần thế do thù hận Thiên Chúa và Vương Quốc Người được thiết lập trong Ðức Giê-su Ki-tô. Hành động đó gây tác hại rất nghiêm trọng về mặt tinh thần và gián tiếp cả về mặt thể lý, nơi mỗi người và nơi xã hội; hành động ấy được Chúa quan phòng để cho xảy ra, Người là Ðấng điều khiển lịch sử loài người và thế giới cách mạnh mẽ mà cũng rất dịu dàng. Việc Chúa để cho ma quỷ hành động quả là một mầu nhiệm lớn, nhưng "chúng ta biết rằng : Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người" (Rm 8, 28).

III. NGUYÊN TỘI

Thiên Chúa thử thách tự do của con người

 

396 (1730, 311 301)Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Ngài và cho họ sống trong tình thân với Người. Là một thụ tạo tinh thần, con người chỉ có thể sống tình thân đó khi tự do tùng phục Thiên Chúa. Ðiều đó được diễn tả trong lệnh cấm con người ăn trái cây biết lành, biết dữ "vì ngày ngươi ăn nó, ngươi sẽ chết" (St 2, l7). "Cây biết lành biết dữ" (St 2, l7) nói lên một cách biểu tượng ranh giới mà con người là thụ tạo không thể vượt qua nhưng phải tự ý nhìn nhận và tôn trọng với lòng tín thác. Con người tùy thuộc vào Ðấng Sáng Tạo, phải tuân theo các định luật tự nhiên và các tiêu chuẩn luân lý qui định việc sử dụng tự do.

Tội đầu tiên của con người

397 (1707, 2541 1850 215)  Con người bị ma quỷ cám dỗ, đã đánh mất lòng tín thác vào Ðấng Sáng Tạo, và khi lạm dụng sự tự do, con người đã bất tuân mệnh lệnh của Thiên Chúa. Ðó là tội đầu tiên của con người (x. Rm 5, l9). Từ đó mọi tội lỗi đều là do bất tuân Thiên Chúa và thiếu tín thác vào lòng nhân hậu của Người.

398 (2084 2113)  Trong tội này, con người đã chọn chính mình thay vì Thiên Chúa và do đó đã khinh mạn Thiên Chúa: Con người đã chọn mình bất chấp Thiên Chúa, bất chấp những đòi hỏi của tình trạng thụ tạo và do đó bất chấp cả điều tốt lành cho bản thân . Khi tác thành con người trong tình trạng thánh thiện, Thiên Chúa đã dành sẵn ơn "thần hóa" sung mãn trong vinh quang. Do ma quỷ cám dổ, con người đã muốn "nên như Thiên Chúa" (x. St 3, 5) mà "không cần Thiên Chúa, qua mặt cả Thiên Chúa, và không theo Thiên Chúa" (Th: Niaxime le Confesseur, ambig).

399  Kinh Thánh cho thấy những hậu quả bi đát của sự bất tuân đầu tiên đó. A-đam và E-và đã tức khắc đánh mất sự thánh thiện nguyên thủy (x. Rm 3, 23). Họ sợ hãi trước vị Thiên Chúa (x. St 3, 9-l0) mà họ quan niệm cách sai lệch, như một Thiên Chúa ganh tị, sợ mất các đặc quyền của mình (x. St 3, 5).

400 (1607 2514, 602, 1008)  Trước kia nguyên tổ sống trong sự hài hòa do tình trạng công chính nguyên thủy, nay tội đã phá hủy sự hài hòa đó, làm cho những khả năng điều khiển của linh hồn trên thể xác bị thương tổn (x. St 3, 7); sự kết hợp nam nữ trở nên căng thẳng (x. St 3, ll-l3); mối quan hệ giữa họ đầy những ham muốn và thống trị (x. St 3, l6). Sự hài hòa với vạn vật bị phá vỡ : thế giới hữu hình trở nên xa lạ và thù nghịch với con người (x. St 3, l7-l9). Vì con người, muôn loài đã "lâm vào cảnh hư ảo" (Rm 8, 20). Cuối cùng, hậu quả đã được báo trước rõ ràng cho tội bất tuân, nay thành hiện thực : "Con người là tro bụi sẽ trở về bụi tro" (St 3, l9). Sự chết đã xâm nhập vào lịch sử nhân loại (x. Rm 5, l2) .

401 (1865, 2259 1799)  Từ tội đầu tiên này cả trần thế bị chìm trong tội lỗi: huynh đệ tương tàn, khởi đầu là Ca-in giết A-ben (St 4, 3-15); tiếp đến là sự sa đọa của cả loài người; cũng vậy, trong lịch sử Ít-ra-en, tội thường xuyên xuất hiện, nhất là dưới dạng bất trung với Thiên Chúa Giao Ước và sự vi phạm luật Mô-sê; cả sau biến cố cứu độ của Ðức Ki-tô, tội xuất hiện dưới nhiều dạng ngay giữa người Ki-tô hữu (x. 1Cr 1-6; Kh 2-3). Thánh Kinh và truyền thống Hội Thánh không ngừng nhắc nhở tội hiện diện khắp nơi trong lịch sử loài người :

Ðiều Thiên Chúa mặc khải cho ta biết, cũng được kinh nghiệm của ta xác nhận. Bởi vì nếu nhìn sâu tận đáy lòng, con người cũng khám phá ra mình hướng về sự dữ, và ngụp lặn trong muôn vàn sự dữ là những điều không thể xuất phát từ Ðấng Tạo Hóa tốt lành . Nhiều khi từ chối không nhìn nhận Thiên Chúa như nguyên uỷ của mình, con người cũng đã phá đổ trật tự phải có để đạt tới cùng đích tối hậu, đồng thời phá vỡ mọi hòa hợp nơi chính bản thân cũng như đối với những người khác và với mọi loài thụ tạo (GS l3, l).

Hậu quả của tội A-đam trên nhân loại

402 (430, 605)  Mọi người đều liên lụy với tội A-đam. Thánh Phao-lô khẳng định : "Do một người bất tuân, muôn người (nghĩa là mọi người) đã mang tội" (Rm 5, l9): "Cũng như vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi đã gây nên sự chết. Như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội" (Rm l5, l2). Thánh tông đồ đối chiếu tính phổ quát của tội lỗi và sự chết với tính phổ quát của ơn cứu độ trong Ðức Ki-tô : "Cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị kết án, thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được làm cho nên công chính, nghĩa là được sống" (Rm 5, l8).

403 (2606 1250)  Theo chân thánh Phao-lô, Hội Thánh luôn dạy rằng chúng ta không thể hiểu được nỗi khốn khổ lớn lao đang đè nén con người cũng như việc họ hướng chiều về sự dữ và sự chết, nếu không nối kết chúng với tội A-đam và việc nguyên tổ đã truyền lại cho chúng ta một tội mà mỗi người phải mang lấy từ khi sinh ra và tội này là "cái chết của linh hồn" (x. Cđ Tren-tô; DS. l5l2). Với xác tín do đức tin này, Hội Thánh ban phép Thánh Tẩy để tha tội cho cả những trẻ em chưa từng phạm tội riêng (x. Cđ Tren-tô : DS l5l4).

404 (360 50)  Bằng cách nào tội A-đam đã trở nên tội của cả nhân loại? Toàn thể nhân loại đều ở trong A-đam "như một thân thể duy nhất của một con người duy nhất" (T. Tô-ma A-qui-nô, mal 4-l). Do "thể thống nhất của nhân loại", mọi người đều liên lụy với tội A-đam, cũng như đồng hưởng sự công chính của Ðức Ki-tô. Tuy nhiên, việc lưu truyền nguyên tội là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể hiểu thấu trọn vẹn. Nhưng nhờ mặc khải chúng ta biết rằng A-đam đã được hưởng nhận sự thánh thiện và công chính không phải cho riêng mình, mà cho cả bản tính nhân loại : khi chiều theo cám dỗ, A-đam và E-và phạm tội với tính cách cá nhân nhưng tội đó ảnh hưởng đến cả bản tính con người mà nguyên tổ đã truyền lại trong tình trạng sa đọa (x. Cđ Tren-tô: DS. l5ll-l5l2). Tội đó đã truyền lại cho hết nhân loại qua sinh sản nghĩa là truyền lại một bản tính loài người đã mất sự thánh thiện và công chính nguyên thuỷ. Do đó, nguyên tội được gọi là "tội" do loại suy : đó là một thứ tội con người bị "nhiễm" chứ không phải đã "phạm"; một tình trạng, chứ không phải một hành vi.

405 (2515 1264)  Tội ấy mặc dầu truyền đến mỗi người (x. Cđ Tren-tô: DS. l5l3), nhưng không hề mang tính cách một tội riêng nơi bất kỳ ai trong con cháu A-đam. Nguyên tội làm mất đi sự thánh thiện và công chính ban đầu, nhưng không làm hư hoại hoàn toàn bản tính loài người : Bản tính loài người chỉ bị thương tổn trong các khả năng tự nhiên, bị lâm cảnh mê muội, đau khổ và phải chết, (hướng chiều về tội lỗi, hướng chiều này được gọi là "vật dục"). Khi ban cho con người đời sống ân sủng của Ðức Ki-tô, bí tích Thánh Tẩy cũng xóa bỏ nguyên tội và quy hướng con người về Thiên Chúa; nhưng hậu quả của nguyên tội trên bản tính bị suy yếu và nghiêng chiều về sự dữ, vẫn tồn tại nơi con người và đòi buộc con người phải chiến đấu luôn mãi.

406  Giáo lý của Hội Thánh về sự lưu truyền nguyên tội đã được minh định, vào thế kỷ V, đặc biệt là qua tư duy của Thánh Âu-tinh chống lại giáo thuyết Pélagiô, và vào thế kỷ XVI, chống lại cuộc cải cách Tin Lành. Theo Pélagiô, với khả năng tự nhiên của ý chí tự do, con người không cần ơn Thiên Chúa trợ giúp cũng có thể sống tốt lành về mặt luân lý. Ông giản lược ảnh hưởng tội A-đam thành ảnh hưởng của một gương xấu. Ngược lại, những nhà Cải Cách đầu tiên chủ trương nguyên tội đã làm con người hoàn toàn sa đọa và tiêu hủy sự tự do của con người; họ đồng hóa tội truyền đến mỗi người với xu hướng về sự dữ mà họ cho là không thể khắc phục được. Hội Thánh làm nổi bật ý nghĩa công bố đã xác định nội dung mặc khải về nguyên tội đặc biệt tại công đồng Orange II năm 529 (DS 37l-372) và Công Ðồng Tren-tô năm l546 (x. DS l5l0-l5l6).

Một cuộc chiến cam go

407 (2015 2852 1888)  Giáo lý về nguyên tội gắn liền với giáo lý về ơn cứu chuộc nhờ Ðức Ki-tô, giúp ta biết nhận định sáng suốt về hoàn cảnh và hành động của con người nơi trần thế. Vì nguyên tổ phạm tội, ma quỷ đã phần nào thống trị trên con người, mặc dầu con người vẫn còn tự do. Hậu quả của nguyên tội là con người phải làm nô lệ dưới quyền kẻ bá chủ sự chết là ma quỉ (x. Cđ Tren-tô : x. DS. l5ll - Dt 2, l4). Nếu không biết bản tính con người đã bị thương tổn, nghiêng chiều về sự dữ, người ta có nguy cơ mắc phải những lầm lẫn nghiêm trọng trong lãnh vực giáo dục, chính trị, hoạt động xã hội (x. CA 25) và luân lý.

408 (1865)  Các hậu quả của nguyên tội và của tất cả các tội riêng của con người đưa toàn bộ thế giới vào một tình trạng tội lỗi mà chúng ta có thể dùng cách nói của Thánh Gio-an để diễn tả : "tội trần gian" (Ga l, 29). Với thành ngữ này, người ta muốn nhấn mạnh ảnh hưởng tiêu cực trên con người do các hoàn cảnh và cơ cấu xã hội, vốn là hậu quả của những tội lỗi (x. RP l6).

409 2516

Hoàn cảnh bi đát của trần thế "nằm dưới ách thống trị của ác thần" (lGa 5, l9) (x. lPr 5, 8) làm cho cuộc sống con người trở nên một cuộc chiến đấu.

Một cuộc chiến cam go chống lại quyền lực bóng tối tiếp diễn suốt trong lịch sử nhân loại; khởi đầu từ lúc khai nguyên và sẽ kéo dài đến ngày cuối cùng như Lời Chúa phán... Dấn thân vào cuộc chiến này, con người phải luôn luôn chiến đấu để gắn bó với sự thiện và chỉ đạt được sự thống nhất nội tâm, sau khi hết sức cố gắng với sự trợ giúp của ơn Chúa (x. GS 37, 2).

IV. "THIÊN CHÚA ÐÃ KHÔNG BỎ MẶC CON NGƯỜI DƯỚI QUYỀN SỰ CHẾT"

410 (55, 705 1609, 2568 675)  Sau khi sa ngã, con người không bị Thiên Chúa bỏ rơi. Ngược lại, Thiên Chúa kêu mời con người và tiên báo cách huyền nhiệm sự dữ sẽ bị đánh bại và con người sa ngã sẽ được nâng dậy. Ðoạn này trong sách Sáng Thế được gọi là "Tiền Tin Mừng" vì đó là lời loan báo đầu tiên về Ðấng Mê-si-a cứu chuộc, về cuộc chiến đấu giữa con rắn và người nữ và về chiến thắng cuối cùng của một hậu duệ người nữ này.
411 359, 615 491

Truyền thống Ki-tô giáo nhận ra trong đoạn trên lời tiên báo một "A-đam mới" (x. 1Cr. l5, 21-22. 45), Ðấng "vâng phục cho đến chết trên thập giá" (Pl 2, 8), đã sửa lại sự bất tuân của A-đam mà còn mang lại ân sủng tràn đầy. Vả lại, có nhiều giáo phụ và tiến sĩ Hội Thánh nhận ra Ðức Ma-ri-a, Mẹ Ðức Ki-tô, là người nữ được tiên báo trong Tiền Tin Mừng và được xem như "E-và mới". Mẹ là người đầu tiên đã thừa hưởng một cách độc nhất vô nhị chiến thắng của Ðức Ki-tô trên tội lỗi : Mẹ đã không hề nhiễm vết nhơ nguyên tội (x. Pi-ô IX - DS 28O3) và nhờ ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa, Mẹ đã không hề phạm một tội nào trong suốt cuộc đời trần thế (Cđ Tren-tô. DS. l573).

412 (310, 395 272 1994)  Nhưng tại sao Thiên Chúa lại không ngăn cản con người đầu tiên phạm tội ? Thánh Lê-ô Cả trả lời : "Ân sủng khôn tả của Ðức Ki-tô, đem lại cho ta những điều tốt đẹp hơn những gì mà vì ganh ghét ma quỉ đã cướp mất" (Bài giảng 73, 4), và thánh Tô-ma A-qui-nô cũng nói : "Sau khi con người đã phạm tội, không có gì ngăn cản bản tính loài người đượchướng về một cứu cánh cao đẹp hơn". Thiên Chúa cho phép sự dữ xảy ra để từ sự dữ rút ra sự lành tốt hơn. Do đó, thánh Phao-lô nói : "Ở đâu tội lỗi ngập tràn, ở đấy ân sủng cũng được thông ban dư dật" (Rm 5, 20); và Hội Thánh hoan ca khi chúc lành nến Phục Sinh : "Nguyên tội hỡi, tội hoá thành hồng phúc, nhờ có ngươi, ta mới được Ðấng Cứu Tinh cao cả dường này" (T. Tôma S. th III, 1, 3 ad 3).

TÓM LƯỢC

413  "Thiên Chúa không tạo ra sự chết. Người chẳng vui thích gì khi các sinh linh hư mất ... Cái chết đã xâm nhập vào trần thế do lòng ghen ghét của ma quỷ (Kn l, l3; 2, 24)".

414  Xa-tan hoặc ma quỉ và các ác thần khác là những thiên thần sa đọa vì đã tự ý khước từ phục vụ Thiên Chúa và ý định của Người. Ðây là một lựa chọn dứt khoát chống lại Thiên Chuá. Chúng đã có dụng ý lôi kéo con người cùng với chúng nổi loạn chống lại Thiên Chúa.

415  "Ðược Thiên Chúa đặt trong tình trạng thánh thiện, ngay từ phút đầu của lịch sử, con người nghe theo thần dữ nên đã lạm dụng tự do của mình khi nổi dậy chống lại Thiên Chúa và muốn đạt tới cứu cánh của mình ngoài Thiên Chúa" (GS l3, 1) .

416  A-đam, con người đầu tiên, vì phạm tội đã đánh mất sự thánh thiện và công chính nguyên thủy được Thiên Chúa ban, không những cho mình mà cho cả nhân loại.

417  A-đam và E-và đã truyền lại cho hậu duệ một nhân tính bị tội đầu tiên làm tổn thương, không còn sự thánh thiện và công chính nguyên thủy. Sự mất mát đó được gọi là "nguyên tội".

418  Hậu quả của nguyên tội là bản tính loài người bị suy yếu trong các khả năng, lâm cảnh mê muội, bị sự chết thống trị, hướng chiều về tội lỗi (hướng chiều này gọi là "vật dục") và như thế, mỗi người đều mắc nguyên tội.
419  Cùng với Công Ðồng Tren-tô chúng tôi xác quyết nguyên tội được lưu truyền lại cùng với bản tính nhân loại "không phải do bắt chước mà do sinh sản" và từ đó, nguyên tội trở nên của mỗi người" (SPF l6).
420  Ðức Ki-tô chiến thắng tội lỗi đã mang lại cho chúng ta những ân huệ cao đẹp hơn những gì tội lỗi đã làm mất đi : "Ở đâu tội lỗi ngập tràn, ở đấy ân sủng được thông ban dư đầy" (Rm 5, 2O).
421 "Người Ki-tô hữu tin rằng thế giới này đã được thiết lập và giữ gìn nhờ tình yêu của Ðấng Sáng Tạo, tác thành và bảo trì. Thế giới ấy đã rơi vào ách nô lệ tội lỗi; nhưng Ðức Ki-tô đã nhờ cuộc khổ nạn và phục sinh bẻ gẫy uy quyền của ác thần và giải thoát thế giới" (GS 2, 2). 

 

© 2010 Đền Thánh Mẹ La Vang Las Vegas, All Rights Reserved
Designed by OLIUDAI