PHẦN THỨ NHẤT: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN (tiếp)

ÐOẠN THỨ HAI: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN KITÔ GIÁO

CHƯƠNG BA: TÔI TIN KINH ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN

683 (424, 2670, 152)   "Nếu không được Thánh Thần giúp sức cho, không ai có thể nói rằng : Giê-su là Ðức Chúa !" (1Cr 12, 3). "Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên : "Ab-ba, Cha ơi!" (Ga 4, 6). Nhận thức đức tin này chỉ có thể có được trong Thánh Thần. Muốn tiếp xúc với Ðức Ki-tô, trước hết phải được Thánh Thần cảm hóa. Chính Chúa Thánh Thần đến gặp gỡ và khơi động đức tin nơi chúng ta. Nhờ phép Thánh Tẩy là bí tích đức tin đầu tiên, Sự Sống, bắt nguồn nơi Chúa Cha, được Chúa Con đem đến, và được Thánh Thần thông truyền cho chúng ta một cách thâm sâu và cá vị trong Hội Thánh :

(249)  Bí tích Thánh Tẩy ban cho chúng ta ơn tái sinh trong Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần. Vì những ai mang trong lòng Thánh Thần của Thiên Chúa, họ được dẫn đến với Ngôi Lời, nghĩa là Ngôi Con; Chúa Con dâng họ cho Chúa Cha và Chúa Cha ban cho họ sự sống bất diệt. Vậy không có Thánh Thần thì không thể thấy Con Thiên Chúa; không có Chúa Con, không ai có thể đến gần Chúa Cha, vì chỉ có Chúa Con nhận biết Chúa Cha, và nhận biết Chúa Con là nhờ Chúa Thánh Thần (T. I-rê-nê, trình bày đức tin tông truyền 7).

684 (236)   Bằng ân sủng, Chúa Thánh Thần đến trước nhất để khơi dậy đức tin của chúng ta và khơi nguồn sự sống mới là "Nhận biết Chúa Cha và Ðấng Cha đã cử đến là Ðức Giê-su Ki-tô" (Ga 17, 3). Tuy nhiên trong Ba Ngôi Chí Thánh, Người lại được mặc khải sau cùng. Thánh Ghê-gô-ri-ô Na-di-en, được người đương thời gọi là "nhà thần học", giải thích tiến trình mặc khải này bằng đường lối sư phạm "hạ cố "của Thiên Chúa :

Cựu Ước công bố tỏ tường về Chúa Cha, chưa rõ nét về Chúa Con. Tân Ước trình bày về Chúa Con, và cho thoáng thấy thiên tính của Chúa Thánh Thần. Bây giờ, Chúa Thánh Thần đang ở giữa chúng ta và giúp chúng ta hiểu rõ hơn về Người. Có thể nói : thật là thiếu khôn ngoan khi chưa tuyên xưng Chúa Cha là Thiên Chúa, lại công bố rõ ràng về Chúa Con; khi chưa chấp nhận Chúa Con là Thiên Chúa lại nói thêm về Chúa Thánh Thần. Ánh sáng của mầu nhiệm Ba Ngôi ngày càng thêm rạng rỡ nhờ những mặc khải tiệm tiến "từ vinh quang này đến vinh quang khác" (T. Ghê-gô-ri-ô Na-di-en l. 5, 26).

685 (236)  Như thế tin kính Chúa Thánh Thần là tuyên xưng : Chúa Thánh Thần là một trong Ba Ngôi Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con, "cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con" (Kinh tin kính Ni-xê-a Con-tan-ti-nô-pô-li). Bởi đã bàn về Mầu nhiệm Chúa Thánh Thần trong thần học về Ba Ngôi, ở đây chỉ bàn về Thánh Thần trong "nhiệm cục cứu độ" thôi.

686 (258)  Chúa Thánh Thần cùng hoạt động với Chúa Cha và Chúa Con từ khởi đầu cho đến lúc hoàn tất ý định cứu độ chúng ta. Nhưng chính trong "thời sau hết", được khai mạc với cuộc Nhập Thể cứu chuộc của Chúa Con, Chúa Thánh Thần mới được mặc khải và thông ban, được nhìn nhận và đón tiếp như một ngôi vị. Ðược hoàn tất trong Ðức Ki-tô, "Trưởng Tử" và Ðầu của công trình sáng tạo mới, ý định cứu độ của Thiên Chúa được thành hình cụ thể trong nhân loại nhờ việc thông ban Chúa Thánh Thần : Hội Thánh, sự hiệp thông trong dân thánh, ơn tha tội, xác phàm sẽ sống lại, sự sống đời đời.

__________________________________________

MỤC TÁM: TÔI TIN KINH ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN

687 (243)   "Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thánh Thần của Thiên Chúa" (1Cr 2, 11). Thánh Thần mặc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa, biết Ðức Ki-tô là Ngôi Lời hằng sống, nhưng Thánh Thần lại không nói về mình. Thánh Thần đã "dùng các ngôn sứ mà phán dạy", để giúp chúng ta nghe được lời của Chúa Cha. Nhưng còn chính Người, chúng ta lại không nghe tiếng Người, chúng ta chỉ nhận biết Người qua việc Người mặc khải và chuẩn bị tâm hồn chúng ta đón nhận Ngôi Lời bằng đức tin. Thánh Thần Chân Lý "vén màn cho ta thấy" Ðức Ki-tô, nhưng "không nói điều gì về mình" (Ga 16, 13). Một kiểu xóa mình như vậy, đúng là phong cách của Thiên Chúa, giải thích tại sao, "thế gian không thể đón nhận Người, vì thế gian không thấy và không biết Người", còn những ai tin vào Ðức Ki-tô thì biết Người vì Người ở lại với họ (Ga 14, 17).

688  Vì là sự hiệp thông sống động trong đức tin các tông đồ do Hội Thánh lưu truyền, nên Hội Thánh là nơi chúng ta nhận biết Thánh Thần :

  •          trong Thánh Kinh được Người linh hứng;
  •          trong Thánh Truyền, mà các giáo phụ là những chứng nhân cho mọi thời đại.
  •          trong Huấn Quyền được Người trợ lực
  •          trong Phụng Vụ Bí Tích mà qua các lời nói và biểu tượng, Thánh Thần giúp chúng ta hiệp thông với Ðức Ki-tô.
  •          trong kinh nguyện, lúc Người chuyển cầu cho chúng ta.
  •          trong các đặc sủng và thừa tác vụ xây dựng Hội Thánh.
  •          trong các dấu chỉ của đời sống tông đồ và thừa sai.
  •          trong chứng từ của các thánh nơi Người biểu lộ sự thánh thiện của Người và tiếp tục công trình cứu độ.

I. SỨ MẠNG PHỐI HỢP CỦA CHÚA CON VÀ CHÚA THÁNH THẦN

689 (245 254 485)  Chúa Cha đã ban Thánh Thần của Con Một Người đến trong lòng chúng ta. Thánh Thần (x. Gl 4. 6) thực sự là Thiên Chúa. Ðồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con, Người không tách rời khỏi Chúa Cha và Chúa Con, trong đời sống thâm sâu của Ba Ngôi cũng như trong hồng ân yêu thương của Ba Ngôi dành cho thế giới. Nhưng khi tôn thờ Ba Ngôi Thiên Chúa ban sự sống, đồng bản thể và không thể phân ly, Hội Thánh cũng tuyên xưng Ba Ngôi phân biệt nhau. Khi Chúa Cha cử Lời của Người đến với chúng ta, Người luôn luôn gởi đến "Hơi Thở" của Người nữa : một sứ mạng phối hợp trong đó Chúa Con và Chúa Thánh Thần phân biệt, nhưng không tách rời nhau. Chúa Ki-tô xuất hiện, Người là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình, nhưng chính Thánh Thần mặc khải Chúa Ki-tô cho chúng ta.

690 (436 788)   Ðức Giê-su là Ki-tô, nghĩa là Ðấng được "xức dầu". Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần mà xức dầu cho Người nên mọi sự xảy đến kể từ Nhập Thể đều xuất phát từ nguồn mạch sung mãn này (x. Ga 3, 34). Khi cuối cùng được tôn vinh (x. Ga 7, 39), Ðức Ki-tô đến lượt mình, có thể cử Thánh Thần từ nơi Chúa Cha đến với những ai tin Người. Người thông ban cho họ Vinh Quang của mình (x. Ga 17, 22) tức là Thánh Thần, Ðấng tôn vinh Người (x. Ga 16, 14). Từ lúc đó, sứ mạng phối hợp này sẽ được triển khai nơi những người được Chúa Cha đón nhận làm con trong thân thể Con của Người : Sứ mạng của Thánh Thần, Ðấng làm cho con người thành nghĩa tử, là kết hiệp họ với Ðức Ki-tô và làm cho họ sống trong Người.

(488)  Khái niệm về xức dầu gợi lên không có khoảng cách nào giữa Ngôi Con và Thánh Thần. Cũng như lý trí và giác quan không nhận thấy khoảng cách nào giữa da thịt và việc xức dầu, thì việc tiếp xúc giữa Chúa Con và Chúa Thánh Thần cũng trực tiếp như vậy, đến nổi những kẻ tiếp xúc với Chúa Con bằng đức tin, cần phải tiếp xúc với Thánh Thần trước đã. Toàn thân Ðức Ki-tô được xức bằng dầu là Thánh Thần. Do đó, ai tuyên xưng Ngôi Con là Chúa, thì tuyên xưng trong Thánh Thần, vì Thánh Thần luôn đi trước những người muốn tiến đến gần Ðức Ki-tô bằng đức tin (T. Ghê-gô-ri-ô thành Nít-xê 3, 1) .

II. DANH XƯNG, CÁC CÁCH GỌI VÀ CÁC BIỂU TƯỢNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN

Danh xưng Chúa Thánh Thần


691   "Thánh Thần" là danh xưng của Ðấng chúng ta phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con. Hội Thánh đã nhận danh xưng này từ Chúa Giê-su và tuyên xưng danh này trong bí tích rửa tội (x. Mt. 28, 19).

Thánh Thần (Ga 3, 5-8). Ðàng khác, "Thần" và "Thánh" là những thuộc tính thần thiêng chung cho Ba Ngôi Thiên Chúa. Nhưng khi nối kết hai từ này với nhau, Thánh Kinh, Phụng Vụ và ngôn ngữ thần học muốn chỉ ngôi vị khôn tả của Chúa Thánh Thần, mà không lẫn lộn với các cách sử dụng khác về các từ "thần" và "thánh".

Những cách gọi Chúa Thánh Thần

692 (1433)  Khi Ðức Giê-su loan báo và hứa Chúa Thánh Thần sẽ đến, Người gọi Thánh Thần là Ðấng "Bảo Trợ", theo nguyên ngữ là: "Ðấng được gọi đến kề bên" (Ga 14, 16. 26; 15, 26; 16, 7). "Ðấng Bào Chữa" thường được dịch là "Ðấng An Ủi", vì Ðức Giê-su là Ðấng An ủi trước nhất (x. 1Ga 2, 1). Chính Chúa Giê-su còn gọi Thánh Thần là "Thần Chân Lý" (Ga 16, 13).

693  Ngoài danh xưng "Chúa Thánh Thần", được dùng nhiều nhất trong sách Công Vụ Tông Ðồ và các Thánh Thư, ta còn thấy những cách gọi khác nơi thánh Phao-lô: Thần Khí của Lời hứa (x. Gl 3, 14; Ep 1. 13), Thần Khí làm cho ta nên nghĩa tử (x. Rm 8, 15; Gl. 4, 6), Thần Khí của Ðức Ki-tô (x. Rm 8, 11), Thần Khí của Ðức Chúa (x. 2 Cr 3, 17), Thần Khí của Thiên Chúa (x. Rm 8, 9. 14; 15, 19; 1 Cr 6, 11; 7, 40); và nơi thánh Phê-rô: "Thần Khí vinh hiển" (1 Pr 4, 14).

Những biểu tượng về Chúa Thánh Thần

694 (1218 2652)  Nước : trong bí tích Thánh Tẩy, nước là một biểu tượng đầy ý nghĩa về tác động của Thánh Thần, vì sau khi kêu cầu Thánh Thần, nước trở thành dấu bí tích hữu hiệu của việc tái sinh : như trong lòng mẹ, chúng ta được cưu mang trong nước; nước rửa tội thực sự nói lên rằng cuộc tái sinh vào đời sống Thiên Chúa được ban trong Thánh Thần. Vì "đã chịu phép rửa trong cùng một Thánh Thần", nên chúng ta "đầy tràn một Thánh Thần duy nhất" (1Cr 12, 13). Chính Thánh Thần là Nước trường sinh chảy ra từ cạnh sườn Ðức Ki-tô chịu đóng đinh thập giá (x. Ga 19, 34; 1Ga. 5, 8), và chảy thành sự sống đời đời trong lòng chúng ta (x. Ga 4, 10. 14; 7, 38; Xh 17, 1-6; Is. 55, 1; Dcr 14, 8; 1Cr 10, 4; Kh 21, 6; 22, 17).

695 (1293 436 1504 794)  Xức dầu : Biểu tượng xức dầu cũng chỉ về Thánh Thần, đến nỗi trở thành đồng nghĩa với Thánh Thần (x. 1Ga 2, 20, 27; 2 Cr, 1, 21). Trong nghi thức khai tâm Ki-tô giáo, xức dầu là dấu bí tích của phép Thêm Sức; các Giáo Hội Ðông Phương gọi là "Xức dầu thánh hiến". Nhưng muốn hiểu rõ, chúng ta phải trở về với việc xức dầu của Ðức Giê-su, việc xức dầu đầu tiên do Chúa Thánh Thần thực hiện. "Ki-tô" (tiếng Hip-ri là "Mê-si-a") nghĩa là "được Thánh Thần Thiên Chúa xức dầu". Cựu Ước (x. Xh 30, 22-32) nói đến những người được Thiên Chúa xức dầu, nổi bật nhất là Vua Ðavit (x. 1Sm 16, 13). Nhưng Ðức Giê-su là Ðấng được Thiên Chúa xức dầu cách độc nhất vô nhị : nhân tính do Ngôi Con đảm nhận "được Thánh Thần xức dầu" trọn vẹn. Ðức Giê-su được Thánh Thần (x. Lc. 4, 18-19; Is. 61, 1) đặt làm "Ki-tô". Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a thụ thai Ðức Ki-tô nhờ tác động Thánh Thần; khi Ngôi Lời giáng sinh (x. Lc 2, 11), Thánh Thần dùng các thiên thần loan báo Người là Ðức Ki-tô và thúc đẩy ông Xi-mê-on đến đền thờ gặp Ðấng Ki-tô Thiên Chúa đã hứa (x. Lc. 2, 26-27). Ðức Ki-tô (x. Lc. 4, 1) đầy Thánh Thần, và nhờ quyền năng Thánh Thần, Người chữa lành và cứu độ (x. Lc 6, 19;8, 46). Cuối cùng chính Thánh Thần làm cho Ðức Giê-su từ cõi chết sống lại (x. Rm. 1, 4; 8, 11). Khi Ðức Giê-su trở thành "Ki-tô" trọn vẹn trong nhân tính đã toàn thắng sự chết (x. Cv. 2, 36), Người ban đầy tràn Thánh Thần cho các thánh "để nhờ kết hợp với nhân tính của Người, họ trở thành "Con người hoàn hảo... , đạt tới tầm vóc viên mãn của Ðức Ki-tô" (Ep. 4, 13), thành "Ðức Ki-tô toàn diện" theo cách nói của Thánh Âu-tinh.

696 (1127 2586 718)  Lửa : Trong khi nước nói đến việc sinh ra và tính phong phú của Sự Sống được ban trong Thánh Thần, lửa tượng trưng cho năng lực biến đổi do tác động của Thánh Thần. Ngôn sứ Ê-li-a, "xuất hiện như lửa hồng và lời ông như ngọn đuốc" (Hc 48, 1); bằng lời cầu nguyện, ông kéo lửa từ trời xuống thiêu cháy hy tế trên núi Cát-minh (x. 1V 18, 38-39). Ðây là hình bóng của lửa Thánh Thần sẽ biến đổi tất cả những gì lửa bén tới. Gio-an Tẩy Giả, "người đi trước dọn đường cho Chúa, đầy Thần khí và quyền lực của Ê-li-a" (Lc 1, 17), loan báo Ðức Ki-tô là Ðấng "sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần và trong lửa" (Lc 3, 16), Ðức Giê-su cũng nói về Thánh Thần : "Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian, và Thầy mong muốn biết bao cho lửa ấy bùng cháy lên"(Lc 12, 49). Dưới những hình "giống như lưỡi lửa", Thánh Thần đậu xuống trên các môn đệ sáng ngày lễ Ngũ Tuần và họ được tràn đầy Thánh Thần (Cv 2, 3-4). Truyền thống linh đạo giữ lại biểu tượng lửa như một trong những biểu tượng diễn tả đúng nhất về tác động của Thánh Thần (x. T. Gio-an Thánh Giá,): "Anh em đừng dập tắt Thánh Thần" (1Th 5, 19).

697 (484 554)  Áng mây và ánh sáng : Hai biểu tượng này luôn đi đôi với nhau trong các lần Thánh Thần xuất hiện. Trong các cuộc thần hiện thời Cựu Ước, áng mây khi chói sáng, khi mờ tối, vừa mặc khải Thiên Chúa hằng sống và cứu độ, vừa che khuất vinh quang siêu việt của Người - như lúc Mô-sê trên núi Xi-nai (x. Xh 24, 15-18), trong lều Hội Ngộ (x. Xh 33, 9-10) và suốt cuộc hành trình trong hoang địa (x. Xh 40, 36-38; 1Cr 10, 1-2); với Xa-lô-môn dịp cung hiến Ðền Thờ (x. 1V 8, 10. 12). Những hình bóng này được Ðức Ki-tô thể hiện trong Thánh Thần. Chính Thánh Thần ngự xuống trên Trinh Nữ Ma-ri-a và "rợp bóng" trên Người, để Người thụ thai và hạ sinh Ðức Giê-su (Lc 1, 35). Trên núi Hiển Dung, chính Thánh Thần đến trong "đám mây bao phủ" Ðức Giê-su, Mô-sê và Ê-li-a, Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an, và "từ đám mây có tiếng phán rằng : "Ðây là Con Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người" (Lc 9, 34-35). Cuối cùng, cũng chính đám mây này "che khuất Ðức Giê-su" ngày Thăng Thiên (Cv 1, 9) và sẽ mặc khải Người là Con Người trong vinh quang ngày tái lâm (x. Lc 21, 27).

698 (1295, 1296 1121)   Ấn tín là biểu tượng gắn liền với biểu tượng xức dầu. Thật vậy, chính "Thiên Chúa đã đóng ấn xác nhận" (Ga 6, 27) Ðức Ki-tô và cũng đã đóng ấn Thánh Thần trên chúng ta trong Con của Người (x. 2 Cr 1, 22; Ep 1, 13; 4, 30). Hình ảnh "ấn tín" đã được dùng trong một số truyền thống thần học để diễn tả "ấn tích" không thể xoá được mà ba bí tích Thánh Tẩy, Thêm Sức, Truyền Chức Thánh để lại.

699 (292 1288 1300, 1573 1668)  Bàn tay. Ðức Giê-su đặt tay để chữa lành bệnh nhân (x. Mc 6, 5; 8, 23) và chúc lành cho trẻ nhỏ (x. Mc 10, 16). Nhân danh Người, các tông đồ cũng làm như vậy (x. Mc 16, 18; Cv 5, 12; 14, 5). Hơn nữa Thánh Thần được thông ban (x. Cv 8, 17-19; 13, 3; 19, 6) nhờ việc đặt tay của các tông đồ. Thư Do Thái coi nghi thức đặt tay vào số "các điều căn bản" của giáo huấn của mình. Hội Thánh đã giữ lại việc đặt tay khẩn cầu Thánh Thần trong các bí tích.

700 (2056)  Ngón tay. Ðức Giê-su "nhờ ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ" (Lc 11, 20). Nếu ngày xưa "Thiên Chúa lấy ngón tay" ghi lề luật trên bia đá (Xh 31, 18), thì ngày nay Thiên Chúa hằng sống cũng dùng Thánh Thần, để viết "bức thư của Ðức Ki-tô" được giao phó cho các tông đồ, "không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người" (2 Cr 3, 3). Thánh thi : "Veni Creator Spiritus" khẩn cầu Thánh Thần như là "ngón tay hữu Chúa Cha".  

701 (1219 535)   Chim bồ câu : Cuối lụt hồng thủy (là biểu tượng cho bí tích Thánh Tẩy), chim bồ câu được ông Nô-ê thả ra, khi trở về ngậm một nhánh ô-liu xanh tươi, báo cho biết mặt đất lại có thể ở được (. x. St 8, 8-12). Sau khi Ðức Ki-tô nhận Phép Rửa của Gio-an và lên khỏi nước. Thánh Thần, dưới hình chim bồ câu, đáp xuống và ngự trên Người (x. Mt. 3, 16 par). Thánh Thần cũng xuống và ngự trong tâm hồn những người lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy. Trong một số nhà thờ, Thánh Thể được giữ trong một bình bằng kim loại hình bồ câu treo bên trên bàn thờ. Trong các ảnh tượng Ki-tô giáo, hình bồ câu là biểu tượng truyền thống để chỉ Thánh Thần.

II. THÁNH THẦN VÀ LỜI THIÊN CHÚA TRONG THỜI CỰU ƯỚC

702 (122 107)  Từ thuở ban đầu cho đến khi "thời gian tới hồi viên mãn" (Ga 4, 4), sứ mạng phối hợp của Ngôi Lời và Thánh Thần của Chúa Cha còn bị che khuất nhưng vẫn luôn hoạt động. Thánh Thần của Thiên Chúa chuẩn bị cho thời của Ðấng Mê-si-a. Thánh Thần và Ðấng Mê-si-a , tuy chưa được mặc khải trọn vẹn, nhưng đã được hứa ban để nhân loại chờ đợi và sẵn sàng đón nhận. Vì vậy, khi đọc Cựu Ước (x. 2 Cr 3, 14), Hội Thánh tìm hiểu kỹ càng những gì Thánh Thần, "Ðấng đã dùng các ngôn sứ mà phán dạy", muốn nói với chúng ta về Ðức Ki-tô.

243 Ngày nay Hội Thánh dùng từ "ngôn sứ" chỉ chung tất cả những ai được Thánh Thần linh hứng khi rao giảng hoặc soạn thảo các Sách Thánh, Cựu Ước cũng như Tân Ước. Truyền thống Do Thái xếp các tác phẩm thành ba loại : Luật (năm sách đầu tiên hoặc Ngũ Thư), các Ngôn Sứ (các sách chúng ta gọi là lịch sử và ngôn sứ) và các Văn Phẩm (các sách minh triết, đặc biệt là tập Thánh Vịnh) (x. Lc. 24, 44).

Trong công trình sáng tạo

703 (292)  Lời và Hơi Thở của Thiên Chúa là nguồn gốc của sự hiện hữu và sự sống mọi thụ tạo (x. Tv 33, 6; 104, 30; St 1, 2; 2, 7; Gv 3, 20-21; Xh 37, 10).

(291)  Chúa Thánh Thần ngự trị, thánh hóa và làm cho công trình sáng tạo có sinh khí, vì Người là Thiên Chúa đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con. Người có quyền trên sự sống, vì với tư cách là Thiên Chúa, Người gìn giữ công trình sáng tạo trong Chúa Cha nhờ Chúa Con (Phụng vụ Byzantine. Ðiệp ca kinh sách các Chúa Nhật tuần 2).

704 (356)  "Chính nhờ đôi tay (là Chúa Con và Chúa Thánh Thần), Thiên Chúa nhào nắn con người và vẽ chính hình dáng của mình trên xác phàm đã được nắn đúc, để ngay cả những gì hữu hình cũng mang nét thiên linh" (T. I-rê-nê, trình bày đức tin tông truyền).

Thiên Chúa hứa ban Thánh Thần

705 (410, 2089)  Dù bị tội lỗi và cái chết làm biến dạng, con người vẫn "là hình ảnh Thiên Chúa", là hình ảnh Chúa Con, nhưng "bị tước mất Vinh Quang Thiên Chúa" (Rm 3, 23), không còn "giống Thiên Chúa". Lời hứa với Áp-ra-ham khai mạc nhiệm cục cứu độ cuối nhiệm cục này, chính Chúa Con sẽ đảm nhận "hình ảnh" (Ga 1, 14; Pl 2, 7) và tái tạo lại nét "giống" Chúa Cha bằng cách hoàn trả cho con người Vinh Quang là Thánh Thần "ban sự sống".

706 (60)   Dù Áp-ra-ham không còn hy vọng gì, Thiên Chúa vẫn hứa cho ông một miêu duệ, như là hoa quả của đức tin và quyền năng của Thánh Thần (x. St. 18, 1-15; Lc 1, 26-38. 54. 55; Ga 1, 12-13; Rm 4, 16-21). Nơi miêu duệ của ông, mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc (x. St 12, 3). Miêu duệ ấy là Ðức Ki-tô (x. Gl. 3, 16). Nơi Người, Thánh Thần sẽ được ban tràn đầy để quy tụ "con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối" (x. Ga 11, 52). Qua lời thề hứa với Áp-ra-ham (x. Lc 1, 73), Thiên Chúa đã cam kết ban Con Chí Ái của Người (x. St 22, 17-19; Rm 8, 32; Ga 3, 16) và ban "Thánh Thần của Lời Hứa... Ðấng chuẩn bị cho công cuộc cứu chuộc Dân mà Thiên Chúa đã tạo ra cho mình" (Ep 1, 13-14) (x. Gl 3, 14).

Trong những cuộc Thần Hiện và Lề Luật

707 Những cuộc thần hiện (Thiên Chúa hiện ra) soi sáng tiến trình thực hiện lời hứa, từ các tổ phụ đến Mô-sê, và Giô-su-ê, đến các thị kiến mở đầu sứ mạng các ngôn sứ lớn. Truyền thống Ki-tô giáo luôn nhìn nhận trong các cuộc thần hiện này, Ngôi Lời của Thiên Chúa tỏ mình cho ta trông thấy và nghe được, vừa được mặc khải vừa "bị che khuất" trong áng mây Thánh Thần.

708 (1961, 1964 122 2585)  Ðường lối sư phạm này của Thiên Chúa tỏ lộ rõ ràng trong việc ban lề luật (x. Xh 19-20; Dt 1, 11; 29-30). Lề Luật đã được ban như một "vị sư phạm" dẫn Dân Chúa đến Ðức Ki-tô (Gl 3, 24). Vì Lề Luật không đủ khả năng cứu con người đang trong tình trạng không còn "giống" Thiên Chúa và làm cho người ta ý thức hơn về tội nên đã khơi lên trong lòng người niềm khao khát Thánh Thần (x. Rm 3, 20), như những lời kêu van trong tập Thánh Vịnh minh chứng.

Trong thời Các Vua và Lưu Ðầy

709 (2579, 544)  Lề luật vốn là dấu chỉ lời hứa và Giao Ước, lẽ ra phải điều khiển con tim và các thể chế của Dân phát sinh từ đức tin của Áp-ra-ham. "Nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta... Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh dành riêng cho Ta" (Xh 19, 5-6). Nhưng sau thời Ða-vít, It-ra-en sa chước cám dỗ và trở thành một vương quốc theo kiểu các dân tộc khác. Thế mà, vương quốc được Thiên Chúa ban cho Ða-vít sẽ là công trình của Thánh Thần và thuộc về những người nghèo theo Thánh Thần.  

710  Vì quên lãng Lề Luật và bất trung với Giao Ước, Ít-ra-en đi vào cõi chết : bị lưu đày, các lời hứa có vẻ bị thất bại. Thực ra, Thiên Chúa vẫn trung tín thực hiện lời hứa một cách mầu nhiệm và khởi sự một cuộc phục hưng như đã hứa, nhưng phục hưng theo Thánh Thần. Dân Chúa cần trải qua cuộc thanh luyện này; lưu đày mang sẵn hình bóng Thập Giá trong ý định của Thiên Chúa, và "số người nghèo sót lại" từ lưu đày trở về là một trong những hình bóng trong sáng nhất về Hội Thánh.

Mong đợi Ðấng Mê-si-a và Thánh Thần của Người

711 (64)  "Này Ta sắp làm một việc mới" (Is 43, 19). Trong Cựu Ước, có hai đừơng hướng ngôn sứ: một bên căn cứ vào sự mong đợi Ðấng Mê-si-a; bên kia loan báo một Thần Khí mới. Hai đường này đồng qui vào số sót, vào đám Dân nghèo đang mong đợi và hy vọng ngày Thiên Chúa "an ủi It-ra-en" và ngày Thiên Chúa "giải phóng Giê-ru-sa-lem" (x. Lc 2, 25-38).

Trong đoạn trên, chúng ta thấy cách Ðức Giê-su thực hiện những lời tiên tri về Người. Ở đây, chúng ta giới hạn về những lời tiên tri có liên quan rõ rệt giữa Ðấng Mê-si-a và Thánh Thần của Người.

712 (439)  Những đường nét về khuôn mặt của Ðấng Mê-si-a bắt đầu xuất hiện trong "sách Em-ma-nu-en" (Is 6-12) đặc biệt là đoạn Is 11, 1-2:

Từ gốc tổ Giê-sê sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, Từ cội rễ ấy, sẽ mọc ra một mầm non Thần Khí Ðức Chúa sẽ ngự trên vị này : Thần Khí khôn ngoan và minh mẫn. Thần Khí mưu lược và dũng mãnh, Thần Khí hiểu biết và kính sợ ÐỨC CHÚA.

713 (601)   Khuôn mặt Ðấng Mê-si-a được mặc khải nhiều nhất trong bốn bài ca về người Tôi Tớ của Thiên Chúa. Những bài ca này tiên báo ý nghĩa cuộc khổ nạn của Ðức Giê-su, và cho thấy cách Người sẽ đổ tràn Thần Khí cho muôn người được sống: không phải từ bên ngoài, nhưng bằng cách "mặc lấy thân phận nô lệ" của chúng ta (Pl 2, 7). Người có thể thông truyền cho chúng ta chính Thần Khí ban sự sống của Người vì Người mang lấy cái chết của chúng ta.

714  Chính vì thế, Ðức Ki-tô khởi đầu công cuộc loan báo Tin Mừng bằng cách tuyên bố đoạn ngôn sứ I-sai-a sau đây nói về Người (Lc 4, 18-19) :

"Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, tuyên cáo lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm trả lại tự do những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân của Thiên Chúa. "

715 (1965)  Các bản văn ngôn sứ trực tiếp nói về việc Thánh Thần đến, là những lời sấm Thiên Chúa nói với những tâm hồn của dân, bằng ngôn ngữ lời hứa, với giọng "thương yêu và thành tín". Sáng ngày lễ Ngũ Tuần, thánh Phê-rô tuyên bố những lời sấm này đã được ứng nghiệm. Theo các lời hứa đó, trong "thời sau hết", Thần Khí Thiên Chúa sẽ đổi mới lòng người bằng cách ghi khắc nơi họ một lề luật mới; Người sẽ qui tụ và giao hòa những dân tộc bị phân tán và chia rẽ Người sẽ biến đổi công trình sáng tạo cũ và Thiên Chúa sẽ ở đó với loài người trong cảnh thái bình.  

716 (368)   Thánh Thần đã âm thầm chuẩn bị suốt thời Cựu Ước một dân để chờ đón Ðức Ki-tô. Dân này gồm "những người nghèo" (x. Xph. 2, 3; Tv 22, 27; 34, 13; Is 49, 13; 61, 1; v. v...), những người khiêm nhu và hiền lành, hoàn toàn phó thác cho ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa, những người mong chờ công lý không phải của loài người nhưng của Ðấng Mê-si-a. Các thánh vịnh, đã nói lên tâm hồn của họ, tâm hồn đã được Thánh Thần thanh luyện và soi sáng. Nơi những người nghèo này, Thánh Thần chuẩn bị cho Chúa"một dân sẵn sàng" (x. Lc l, 17).

IV. THÁNH THẦN CỦA ÐỨC KI-TÔ - TRONG THỜI VIÊN MÃN

Gio-an, Vị Tiền Hô, Ngôn Sứ và Tẩy Giả

717 (523)  "Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gio-an" (Ga 1, 6). Gio-an "được được đầy Thánh Thần, ngay từ khi còn trong lòng mẹ" (Lc 1, 15. 41), nhờ chính Ðức Ki-tô vừa tượng thai trong lòng Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a bởi quyền năng Thánh Thần. Việc "Ðức Ma- ri-a viếng thăm bà Ê-li-sa-bet" đã trở thành việc "Thiên Chúa viếng thăm dân Người" (Lc 1, 68).  

718 (696)  Gio-an chính là "ngôn sứ Ê-li-a phải đến" (Mt 17, 10-13) : ngọn lửa Thánh Thần ở trong ông và sai ông với tư cách "tiền hô" dọn đường cho Chúa đến. Nơi Gio-an Tiền Hô, Thánh Thần hoàn tất việc "chuẩn bị lòng dân sẵn sàng đón Chúa" (Lc 1, 17).

719 (2684 536)  Gio-an "còn hơn một ngôn sứ nữa" (Lc 7, 26). Nơi ông, Thánh Thần hoàn tất việc "dùng các ngôn sứ mà phán dạy". Gio-an kết thúc thời đại các ngôn sứ của Cựu Ước do Ê-li-a khởi đầu (x. Mt. 11, 13-14). Ông loan báo Chúa sắp an ủi Ít-ra-en, ông là "tiếng" của Ðấng An Ủi đang đến (Ga 1, 23) (x. Is 40, 1-3). Tương tự như những người sau này được Thánh Thần chân lý tác động, "Gio-an đến như chứng nhân để làm chứng cho ánh sáng" (Ga 1, 7). Chính Gio-an chứng kiến Thánh Thần hoàn tất "điều các ngôn sứ tìm kiếm, và các thiên thần ước mong" (1 Pr 1, 10-12) : "Thánh Thần hiện xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng chính Người là Con Thiên Chúa. Ðây là "Chiên Thiên Chúa" (Ga 1, 33-36).

720 (535)   Cuối cùng, Thánh Thần dùng Gio-an Tẩy Giả báo trước điều Người sẽ thực hiện với Ðức Ki-tô và trong Ðức Ki-tô là tái tạo con người "nên giống Thiên Chúa". Phép rửa của Gio-an là phép rửa thống hối, còn phép rửa trong nước và trong Thánh Thần sẽ là cuộc tái sinh (x. Ga 3, 5).

"Mừng vui lên, hỡi bà đầy ân phúc"

721 (484)   Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a, Thánh Mẫu chí thánh của Thiên Chúa, là tuyệt tác của sứ mạng Ngôi Con và Thánh Thần trong thời viên mãn. Lần đầu tiên trong chương trình cứu độ, và nhờ Thánh Thần chuẩn bị trước, Chúa Cha đã tìm được nơi Ðức Ma-ri-a "chỗ ở" để Chúa Con và Chúa Thánh Thần có thể cư ngụ giữa loài người. Theo ý hướng đó, truyền thống Hội Thánh thường đọc những bản văn tuyệt tác về đức Khôn Ngoan (x. Cn 8, 1-9, 6; Hc 24) trong tương quan với Ðức Ma-ri-a : Mẹ được Phụng Vụ ca ngợi là "Tòa Ðấng Khôn Ngoan".

Những "điều cao cả của Thiên Chúa" mà Thánh Thần sắp thực hiện nơi Ðức Ki-tô và trong Hội Thánh, Người đã bắt đầu nơi Ðức Ma-ri-a.

722 (2676)   Thánh Thần đã chuẩn bị Ðức Ma-ri-a bằng ân sủng. Mẹ "đầy ân sủng", vì là Mẹ của Ðấng " nơi Người tất cả sự Viên Mãn của Thiên Tính hiện diện cách cụ thể" (Cl 2, 9). Chỉ nhờ ân sủng, Mẹ đã được thụ thai không hề mắc tội, như là thụ tạo khiêm tốn nhất, xứng đáng nhất để đón nhận hồng ân khôn tả của Ðấng Toàn Năng. Thiên thần Gáp-ri-en chào Mẹ bằng tước hiệu cao trọng "Nữ tử Xi-on": "Mừng vui lên (x. Xph. 3, 14; Gcr 2, 14)!" Khi cưu mang Ngôi Con Hằng Hữu, dưới tác động Thánh Thần, Ðức Ma-ri-a đã dâng lên Chúa Cha lời tạ ơn của toàn thể Dân Chúa là Hội Thánh.

723 (485 506)  Nơi Ðức Ma-ri-a, Thánh Thần thực hiện ý định nhân từ của Chúa Cha. Chính do Chúa Thánh Thần, Ðức Trinh Nữ đã thụ thai và sinh hạ Con Thiên Chúa; nhờ quyền năng của Thánh Thần và đức tin (x. Lc l, 26-38; Rm 4, 18-21; Ga. 4, 26-28), Mẹ sinh con mà vẫn trinh khiết vẹn tuyền một cách độc nhất vô nhị.

724 (208 2619)  Nơi Ðức Ma-ri-a, Thánh Thần "cho thấy" Con Chúa Cha trở thành Con Ðức Trinh Nữ. Mẹ là "bụi gai rực cháy" của cuộc Thần Hiện tối hậu : đầy tràn Thánh Thần, Mẹ giới thiệu Ngôi Lời tự hạ trong xác phàm cho những "người nghèo" cũng như cho những đại diện đầu tiên của các dân tộc để họ nhận biết Người (x. Lc 1, 15, 19).

725 (963)  Cuối cùng, nhờ Ðức Ma-ri-a, Thánh Thần bắt đầu làm cho "loài người Chúa thương" (Lc 2, 14) được hiệp thông với Ðức Ki-tô. Những kẻ khiêm nhu bao giờ cũng là kẻ đầu tiên đón nhận Người : các mục đồng, các đạo sĩ, Xi-mê-on và An-na, đôi tân hôn ở Ca-na và các môn đệ đầu tiên.

726 (494, 2618)  Sau những công trình kỳ diệu Chúa Thánh Thần đã thực hiện nơi Mẹ, Ðức Ma-ri-a trở nên "Người Nữ", E-và mới, "mẹ chúng sinh", Mẹ của "Ðức Ki-tô toàn diện" (x. Ga 19, 25-27). Chính với tư cách này, Mẹ hiện diện với nhóm Mười Hai, "đồng tâm nhất trí, siêng năng cầu nguyện" (Cv 1, 14), khi Thánh Thần khai mở "thời đại cuối cùng", với việc giới thiệu Hội Thánh vào sáng ngày lễ Ngũ Tuần.

Ðức Ki-tô Giê-su

727 (438, 695 536)  Tất cả sứ mạng của Chúa Con và Thánh Thần trong thời viên mãn có thể thu gọn trong việc Chúa Con là Ðức Ki-tô, là Ðấng Mê-si-a, Ðấng được Thánh Thần của Chúa Cha xức dầu từ khi nhập thể.

Chúng ta phải đọc trọn tín điều hai của Kinh Tin Kính dưới ánh sáng này. Tất cả công trình của Ðức Ki-tô là sứ mạng phối hợp của Chúa Con và Thánh Thần. Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến lời Ðức Ki-tô hứa ban Thánh Thần và việc Người thực hiện lời hứa đó sau khi được tôn vinh.

728 (2615)   Ðức Giê-su chưa mặc khải trọn vẹn Thánh Thần, bao lâu Người chưa được tôn vinh nhờ cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh. Tuy nhiên, Người đã dần dần gợi ý về Thánh Thần khi giảng dạy dân chúng : Thịt của Người sẽ là "của ăn cho thế gian được sống" (x. Ga 6, 27, 51. 62-63). Người giải thích hoạt động của Thánh Thần cho ông Ni-cô-đê-mô (Ga 3, 5-8), cho thiếu phụ Sa-ma-ri-a (x. Ga 4, 10. 14. 23-24) và những người tham dự Lễ Lều (x. Ga 7, 37-39). Ðối với các môn đệ, Người đã dạy rõ ràng về Thánh Thần khi nói đến cầu nguyện và việc họ phải làm nhân chứng cho Người (x. Lc ll, 13).

729 (388 1433)   Chỉ khi đến "Giờ" sắp được tôn vinh, Ðức Giê-su mới hứa ban Thánh Thần, vì lời Thiên Chúa hứa với Tổ phụ sẽ được thực hiện nhờ cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Người (x. Ga 14, 16-17. 26; 15, 26; 16, 7-15;17, 26):. Nhờ lời cầu xin của Ðức Giê-su, Chúa Cha sẽ ban cho các môn đệ Thánh Thần chân lý, Ðấng Bào Chữa khác; Thánh Thần sẽ được Chúa Cha cử đến nhân danh Ðức Giê-su; Ðức Giê-su sẽ từ Chúa Cha gởi Chúa Thánh Thần đến vì Thánh Thần phát xuất từ Cha. Thánh Thần sẽ đến, chúng ta sẽ nhận biết Người, Người sẽ ở cùng chúng ta mãi mãi. Người sẽ lưu lại với chúng ta dạy dỗ chúng ta mọi sự và nhắc cho chúng ta tất cả những gì Ðức Ki-tô đã nói với chúng ta, và Người sẽ làm chứng về Ðức Ki-tô. Người sẽ dẫn chúng ta đến chân lý trọn vẹn và sẽ tôn vinh Ðức Ki-tô. Người sẽ chứng minh cho thế gian thấy là họ sai lầm về vấn đề tội lỗi, vấn đề công chính, và về vấn đề xét xử.

730 (850)  Cuối cùng, "Giờ" của Ðức Giê-su đã đến (x Ga 13, 1; 17, 1): Ðức Giê-su trao Thần Khí của Người vào tay Chúa Cha (x. Lc 23, 46; Ga 19, 30), ngay lúc Người toàn thắng sự chết bằng cái chết của mình; cho nên ngay khi "sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển Chúa Cha" (Rm 6, 4), Người thổi hơi "ban Thánh Thần cho các môn đệ" (x. Ga 20, 22). Từ Giờ đó, sứ mạng của Chúa Ki-tô và của Chúa Thánh Thần trở thành sứ mạng của Hội Thánh : "Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì bây giờ Thầy cũng sai anh em" (Ga 20, 21) (x. Mt 28, 19; Lc 24, 47-48; Cv 1, 8).

V. THÁNH THẦN VÀ HỘI THÁNH - TRONG THỜI ÐẠI CUỐI CÙNG

Chúa Thánh Thần hiện xuống

731( 2623, 767 1302)  Việc Thánh Thần tỏ hiện, được ban tặng và thông truyền như là ngôi vị Thiên Chúa vào ngày lễ Ngũ Tuần, hoàn tất cuộc Vượt Qua của Ðức Ki-tô : từ nguồn sung mãn của Người, Chúa Ki-tô ban tràn đầy Thánh Thần cho mọi tín hữu (x. Cv 2, 36).

732 (244 672)  Trong ngày lễ Ngũ Tuần, mầu nhiệm Ba Ngôi Chí Thánh được mặc khải trọn vẹn. Kể từ ngày đó, Vương Quốc được Ðức Ki-tô loan báo, mở ra cho những ai tin nơi Người. Dù phận hèn yếu đuối, các tín hữu được hiệp thông với Ba Ngôi Chí Thánh trong đức tin. Thánh Thần đã đến và không ngừng đến để đưa thế giới vào "thời đại cuối cùng", thời đại của Hội Thánh : Vương Quốc đã được thừa hưởng nhưng chưa hoàn tất.

Chúng con đã trông thấy Ánh Sáng thật, chúng con đã nhận lãnh Thánh Thần, chúng con đã tìm thấy Ðức Tin chân thật : chúng con tôn thờ Ba Ngôi Thiên Chúa bất khả phân ly, vì chính Ba Ngôi đã cứu chúng con (Phụng vụ byzantine. Ðiệp ca kinh chiều lễ Hiện xuống, thánh ca hiệp lễ.).

Thánh Thần - Hồng Ân Thiên Chúa

733 (218)  "Thiên Chúa là Tình Yêu" (1Ga 4, 8. 16) và Tình Yêu là hồng ân tuyệt diệu chứa đựng tất cả các ơn khác. Tình yêu này "Thiên Chúa đã đổ vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta" (Rm 5, 5).

734 (1987)  Bởi vì tội đã làm cho chúng ta phải chết hoặc ít nữa là bị tổn thương, nên hiệu quả đầu tiên của hồng ân Tình Yêu là ơn tha tội. Chính ơn hiệp thông của Thánh Thần (2 Cr 13, 13) trong Hội Thánh, làm cho những người lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy lại được nên "giống Thiên Chúa", điều họ đã mất vì tội.

735 (1822)  Thánh Thần ban cho chúng ta "bảo chứng" hoặc "ân huệ mở đầu" của Gia Sản (x. Rm 8, 23; 2Cr 1, 21) là chính sự sống của Ba Ngôi Chí Thánh. Sự sống này là yêu thương "như Thiên Chúa đã thương yêu chúng ta" (x. 1Ga 4, 11-12). Tình yêu này (Ðức Ái của 1 Cr 13) là nguyên lý đời sống mới trong Ðức Ki-tô. Chúng ta có thể sống được như thế, vì chúng ta đã "nhận được sức mạnh của Thánh Thần" (Cv 1, 8).

736 (1832)  Nhờ quyền năng của Thánh Thần, con cái Thiên Chúa có thể làm được những viêc tốt lành. Ðấng đã tháp chúng ta vào Cây Nho thật, sẽ giúp chúng ta trổ sinh "hoa quả của Thánh Thần là bác ái, hoan lạc, bình an, quảng đại, nhân từ, lương thiện, trung tín, hiền hòa, tiết độ" (Gl 5, 22-23). "Thánh Thần là sự sống của chúng ta"; chúng ta càng từ bỏ ý riêng (x. Mt 16, 24-26), "Thánh Thần càng hướng dẫn đời ta"(Gl 5, 25) :

Nhờ hiệp thông với Thánh Thần, chúng ta trở nên người của Thánh Thần, được đưa trở lại Ðịa Ðàng, được dẫn vào Nước Trời và tình nghĩa tử, được ban cho lòng tin tưởng để gọi Thiên Chúa là Cha, để thông phần vào ân sủng của Ðức Ki-tô, để được gọi là con cái sự sáng và dự phần vào vinh quang đời đời (T. Baxiliô, bàn về Chúa Thánh Thần).

Thánh Thần và Hội Thánh

737 (787, 798 1093, 1109)  Sứ mạng của Ðức Ki-tô và của Thánh Thần được thể hiện trong Hội Thánh là Thân Thể Ðức Ki-tô và Ðền Thờ Chúa Thánh Thần. Sứ mạng phối hợp này từ nay liên kết các tín hữu của Ðức Ki-tô vào sự hiệp thông của Người với Chúa Cha trong Thánh Thần. Thánh Thần chuẩn bị con người, ban ân sủng để thu hút họ đến với Ðức Ki-tô. Người mặc khải cho họ Ðức Chúa Phục Sinh, nhắc cho họ nhớ Lời Chúa và mở lòng trí họ hiểu được cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh. Người làm cho mầu nhiệm Ðức Ki-tô hiện diện, nhất là trong thánh lễ, để hòa giải, cho họ hiệp thông với Thiên Chúa, nhờ đó họ "sinh hoa kết quả dồi dào" (Ga 15, 5. 8. 16).

738 (850, 777)  Như vậy, sứ mạng Hội Thánh không phải là bổ túc cho sứ mạng của Ðức Ki-tô và của Thánh Thần, nhưng là "bí tích" của sứ mạng này. Theo bản chất, toàn thể và từng chi thể của Hội Thánh được sai đi để rao giảng và làm chứng, hiện tại hóa và lan tỏa mầu nhiệm hiệp thông của Ba Ngôi Chí Thánh (đây sẽ là nội dung của mục kế tiếp) :

Tất cả chúng ta đã lãnh nhận cùng một Thần Khí duy nhất là Thánh Thần, chúng ta hiệp nhất với nhau và với Thiên Chúa. Vì chúng ta tuy nhiều người, nhưng Ðức Ki-tô đã cho Thánh Thần của Chúa Cha và của Người cư ngụ trong mỗi người chúng ta. Thần Khí duy nhất và không thể phân chia này, quy tụ lại trong Người những con người riêng rẽ và làm cho mọi người nên một trong Người. Cũng như quyền năng của nhân tính Ðức Ki-tô làm cho những ai chia se<150) nhân tính đó hợp thành một thân thể duy nhất; cũng vậy tôi nghĩ rằng, Chúa Thánh Thần duy nhất và không thể phân chia, Ðấng ngự trong mọi người, cũng đưa mọi người đến sự hiệp nhất thiêng liêng (T. Syrilô Giám mục Alexanri, Jo 12).

739 (1076)   Vì Thiên Chúa dùng Thánh Thần xức dầu Ðức Giê-su, nên với tư cách là Ðầu của Thân Thể, Ðức Ki-tô thông ban Thánh Thần cho các chi thể để nuôi dưỡng, chữa lành, cắt đặt họ vào các chức vụ hỗ tương, làm cho họ được sống, sai họ đi làm chứng, liên kết họ với Người trong hiến lễ dâng lên Chúa Cha và trong lời chuyển cầu cho toàn thế giới. Nhờ các bí tích của Hội Thánh, Ðức Ki-tô thông truyền cho các chi thể Thánh Thần của Người, vừa là Ðấng Thánh vừa là Ðấng Thánh Hóa (đây sẽ là nội dung phần hai của sách Giáo Lý này).

740  "Những hồng ân cao cả" Thiên Chúa ban cho tín hữu qua các bí tích, sẽ sinh hoa kết quả nơi đời sống mới trong Ðức Ki-tô theo Thánh Thần (đây sẽ là nội dung của phần ba của sách Giáo Lý).

741  "Thánh Thần giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn. Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, nên Thánh Thần cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả" (Rm 8, 26). Thánh Thần, tác giả những kỳ công của Thiên Chúa, là Thầy dạy cầu nguyện (đây sẽ là nội dung phần bốn của sách Giáo Lý).

TÓM LƯỢC

742  "Ðể chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã cử Thánh Thần của Con Mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên : Áp-ba, Cha ơi!" (x. Gl 4, 6).

743  Từ nguyên thủy đến tận thế, khi Thiên Chúa cử Chúa Con đến với loài người, bao giờ Người cũng cử Chúa Thánh Thần đi cùng. Sứ mạng của hai ngôi liên kết với nhau và không thể tách rời.

744  Khi thời gian đến hồi viên mãn, Thánh Thần hoàn tất nơi Ðức Ma-ri-a mọi công cuộc chuẩn bị để Ðức Ki-tô đến giữa Dân Chúa. Nơi Ðức Ma-ri-a, Chúa Cha nhờ tác động của Thánh Thần ban cho thế giới Ðấng Em-ma-nu-en nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Mt l, 23).

745  Khi nhập thể, Chúa Con được Thiên Chúa xức dầu bằng Thánh Thần để phong làm Ðấng Ki-tô (Mêsia) (x. Tv 2, 6-7).

746   Phục Sinh, Ðức Giê-su được Thiên Chúa đặt "làm Ðức Chúa và làm Ðấng Ki-tô" trong vinh quang (Cv 2, 36). Từ nguồn sung mãn của Mình, Người ban tràn đầy Thánh Thần cho các tông đồ và Hội Thánh.

747  Vì là Ðầu của Thân Thể, Ðức Ki-tô thông ban tràn đầy Thánh Thần cho các chi thể, để Thánh Thần xây dựng, linh hoạt và thánh hóa Hội Thánh. Hội Thánh là bí tích của sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Chí Thánh và loài người.

__________________________________________________________________________________________________
Nhấn vào đây để xem Mục 9

 

© 2010 Đền Thánh Mẹ La Vang Las Vegas, All Rights Reserved
Designed by OLIUDAI